Văn Hóa
Son La   Tây Bắc 
<= Back

 

Hinh`

Sơn La

«Ai lên miền quê tôi nước suối trong bên núi đồi, có ai về Sơn La... ». Câu hát mượt mà như ngân nga suốt cả chặng đường. Du khách có thể đến với Sơn La theo những tour du lịch ngắn (hai ngày ba đêm) bằng đường quốc lộ 6: Hà Nội - Ḥa B́nh - Sơn La - Lai Châu; quốc lộ 37: Mai Sơn - Bắc Yên - Điện Biên - Phù Yên - Yên Bái. QL 279: Sơn La - Lai Châu - Lào Cai ; QL 4G: Sơn La - Sông Mă - Điện Biên Đông - Điện Biên hoặc bằng đường thủy từ Ḥa B́nh tới cảng Tà Hộc (Mai Sơn), hoặc nhanh hơn nữa là đường hàng không từ sân bay Nội Bài đến Nà Sản.

Thác Ta Niết -Mộc Châu

Đến với Sơn La, bạn sẽ được ngắm nh́n một vùng núi non hùng vĩ và khám phá về giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc, cũng như cuốn hút trong ṿng x̣e, ngây ngất say trong men rượu cần, cùng thả hồn theo ánh lửa bập bùng và giọng hát ngọt ngào, vang xa trong đêm hội nhạc rừng. Trong những năm vừa qua, khi đất nước trên đà đổi mới, th́ Sơn La cũng đă có nhiều chuyển biến sâu sắc, nhất là trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xă hội và cuộc sống của nhân dân. Sơn La được du khách biết đến bởi những nét văn hóa đặc sắc của 12 dân tộc anh em. Giữa cái rất riêng của 12 dân tộc ấy là những nét rất chung, đó là sự giao ḥa giữa các nền văn hóa.

Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, th́ ngành du lịch Sơn La cũng đă có những khởi sắc. Nhiều tour du lịch ngắn được tổ chức đă tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đă được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia « Quế Lâm Ngự Chế» - bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên ṿm hang vách đá thẳng đứng, dưới ḷng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ ṿm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

Khi áng chiều đă trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những ḍng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh b́nh, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn ḿnh theo triền núi. Cách trung tâm thị xă gần 5 km, điểm tham quan và thư giăn tại khu Suối nước nóng Bản Ṃng hiện ra c̣n nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

 

Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đă lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xă Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành tŕnh của ḿnh để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện ḥa cùng hương chè ngan ngát.

Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nh́n những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những ḍng suối nước trong veo và cả tấm ḷng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần ḥa quyện cùng điệu x̣e bên ánh lửa bập bùng sẽ c̣n lưu giữ măi trong ḷng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành tŕnh về với Sơn La. Mời các bạn hăy đến thăm quê hương chúng tôi!

 

Nghề làm gốm
của người Thái đen ở Chiềng Cơi

Nằm ven Quốc lộ 6, Chiềng Cơi trước đây thuộc Châu Mường La, bên cạnh " Tồng Chiềng cằm" nổi tiếng, một trong hai vựa lúa của Mường La. Ngày nay Chiềng Cơi thuộc thị xă Sơn La. Đồng bào cư trú ở đây chủ yếu là người Thái đen, có cuộc sống định cư lâu đời nên nền nông nghiệp lúa nước khá phát triển.

Theo lời kể của các cụ già, nghề làm gốm ở Chiềng Cơi đă h́nh thành từ rất lâu, cha truyền con nối và đă có thời gian phát triển rực rỡ. Nghề làm gốm tập trung ở hai bản: Bản Mé và Bản Ban.

Sản phẩm gốm Chiềng Cơi chủ yếu là đồ gia dụng, đồ đun nấu có kích thước nhỏ như nồi chảo, nồi ươm tơ, ninh đ̣ xôi ... Do chất đất yếu nên không thể sản xuất được các sản phẩm có kích thước cao lớn, sản phẩm không chịu được nhiệt độ cao và có độ bền thấp.

Dụng cụ và phương pháp làm gốm của Chiềng Cơi hoàn toàn là thủ công, hết sức thô sơ và đơn giản. Tuy nhiên, gốm Chiềng Cơi vẫn có những nét độc đáo hết sức riêng biệt và được trao đổi với vùng gốm nổi tiếng, có chất lượng cao như gốm Mường Chanh.

Trước đây gốm Chiềng Cơi sản xuất ra được trao đổi rộng răi, ngày nay không c̣n sản xuất nữa do chất lượng không cao lắm, mẫu mă không c̣n phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Tuy nhiên, đồng bào Thái ở Chiềng Cơi vẫn rất tự hào khi nói về nghề gốm, một nghề thủ công truyền thống rất đặc sắc và nổi tiếng của dân tộc ḿnh.

Nghề làm giấy của người Mông ở Sơn La

Nghề làm giấy thủ công là một nghề mà sản phẩm của nó không thế thiếu được trong cuộc sống tâm linh của đồng bào người Mông ở Sơn La.

Giấy thường được làm vào thời gian nông nhàn đặc biệt là vào dịp tết để cúng mừng năm mới. Người ta thường làm giấy vào mùa khô ráo, trời nắng mới đem phơi giấy để giấy được trắng và đẹp. Nghề làm giấy chủ yếu do người phụ nữ đảm nhiệm, không yêu cầu kỹ thuật cao lắm. Người Mông thường sử dụng các loại chất liệu liệu có rất nhiều ở nơi họ cư trú như cây dướng, tre non, rơm là những loại chất.

Dụng cụ làm giấy rất đơn giản, do đồng bào tự sáng chế ra để dùng trong gia đ́nh. Dụng cụ cơ bản nhất là một cái khuôn để tráng giấy. Khuôn được làm bằng vải bông, có độ thoáng có kích cỡ tuỳ thuộc vào ư định của gia chủ, thường là 60 x 1,2 m. Ngoài ra, c̣n có một nồi nấu chất liệu giấy, một cục kê và một thanh gỗ để đập giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy. Có ba loại giấy là giấy dướng (giấy làm từ vỏ cây dướng), giấy làm bằng tre non chưa có lá và giấy làm từ rơm. Quy tŕnh làm các loại có khác nhau một chút.

Giấy thành phẩm của ba loại chất liệu có những đặc điểm khác nhau. Giấy rơm có màu vàng nhạt dày, độ xốp cao, dai mịn. Giấy tre có màu trắng ngà, trên mặt nổi rơ những sợi tơ tre, bóng, mỏng, dai. Giấy dướng có màu trắng ngà, thô dai dày.

Dân tộc Mông ở Sơn La không có chữ viết riêng và giấy sản xuất ra không phải để viết mà chủ yếu làm giấy cúng nên không cần độ mịn, trắng cao. Họ quan niệm rằng, nếu lễ tết, cúng cầu mùa không có giấy cúng tự ḿnh làm ra th́ tổ tiên sẽ không nhận. Mỗi gia đ́nh người Mông có một góc thờ, chỉ dán tờ giấy lên vách phía sau đối diện với cửa chính đánh dấu góc thờ nhưng rất đỗi linh thiêng. Ngoài ra giấy c̣n được dùng làm lá gió cho bễ ḷ rèn, vừa dai bền lại lâu rách.

Ngày nay, không phải gia đ́nh người Mông nào cũng làm giấy nhưng trong tất cả các bản đều vẫn duy tŕ nghề này v́ sản phẩm giấy đă đi vào tâm linh của họ, là sự gắn kết giữa người sống với tổ tiên và nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn.

Dệt vải lanh - nghề thủ công truyền thống của dân tộc Mông

Ở Sơn la, dân tộc Mông có số dân đông thứ 3, cư trú chủ yếu ở vùng núi cao thuộc các huyện: Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu và Sông Mă. Sơn la có 3 ngành Mông: Mông đen, Mông hoa, Mông trắng với các đặc trưng văn hoá khác nhau.

Bên cạnh việc làm nương rẫy, ruộng nước, chăn nuôi... họ có một số nghề thủ công truyền thống đạt kỹ thuật cao, mà đặc sắc hơn cả là nghề dùng sợi lanh để dệt vải.

Theo lời kể của các cụ già th́ nghề dệt vải lanh đă h́nh thành từ rất lâu và được truyền lại qua nhiều thế hệ. Bất cứ người phụ nữ Mông nào đến tuổi trưởng thành cũng phải biết xe lanh thành sợi để dệt vải phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của gia đ́nh. Người Mông rất ưa chuộng vải lanh bởi nó có độ bền hơn hẳn vải bông. Ngoài ra, vải lanh c̣n có ư nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mông. Họ quan niệm rằng, sợi lanh là sợi chỉ dẫn đường cho linh hồn người chết về với tổ tiên về đầu thai lại với con cháu.

Việc dệt vải lanh c̣n thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ, đó là một trong những tiêu chí để đánh giá tài năng, đạo đức, phẩm chất và cách làm ăn của chị em phụ nữ. Vỏ cây lanh được tước ra thành từng sợi nhỏ và nối với nhau một cách khéo léo để không tạo thành mấu ở chỗ nối. Đây là việc làm đ̣i hỏi nghệ thuật nhẹ nhàng, kiên tŕ, nhẫn nại. V́ vậy lúc nào phụ nữ Mông cũng đều tranh thủ tước và nối các sợi lanh kể cả lúc trên đừng từ nhà lên nương và từ nương về nhà. Bước tiếp theo, người ta mắc các sợi lanh vào khung quay cho chúng xoắn lại thành từng cuộn. Sau đó đem cuộn sợi này luộc trong nước tro. Khi giặt sạch nước tro th́ sợi lanh có màu trắng. Khi sợi đă chuẩn bị sợi xong, việc dệt vải sẽ được bắt đầu.

Đồng bào dân tộc Mông dệt vải trên khung cửi đơn giản, chỉ có hai thanh gỗ tiết diện tích 12 cm x 12 cm. dài 60 cm đặt cách xa nhau khoảng 50 cm. Giữa hai thanh gỗ đó có bốn thanh ngang nhỏ hơn ghép vào hai thanh đứng tạo thành khung cửi, con thoi để dệt khá to. Khi dệt người ta buộc chúng dựa vào cột nhà, người dệt ngồi trên ghế đẩu.

Khi dệt được vải rồi, người ta đem nhuộm chàm dùng để may quần áo cho nam giới và vải không nhuộm chàm để may váy cho phụ nữ Mông trắng. Với phụ nữ Mông hoa th́ họ vẽ sáp ong lên vải trắng những đường hoa văn h́nh học theo ư muốn sau đó mới đem nhuộm chàm. Sau khi nhuộm chàm xong họ thêu hoa, ghép vải hoa thành thành những hoa văn cầu kỳ. Mô típ hoa văn chủ yếu là những h́nh kỷ hà, h́nh chữ nhật, h́nh vuông, h́nh thoi, gam màu chủ yếu là xanh, đỏ, tím, vàng. Với phụ nữ Mông đen th́ họ dùng vải lanh nhuộm chàm đen để may váy. Bên cạnh những trang phục trên, họ dùng vải lanh để may chăn, màn, tạp dề, khăn...

Ngày nay nghề dệt vải lanh ít phát triển hơn bởi trong điều kiện khoa học kỹ thuật các loại bông vải sợi được sản xuất có giá rẻ hơn và phong phú về mẫu mă, kiểu dáng nên việc sử dụng vải lanh giảm đi nhiều. Tuy nhiên, đa số phụ nữ Mông vẫn dùng vải lanh để may váy, áo, xà cạp và mỗi người về với tổ tiên cần phải có một bộ quần lanh v́ họ quan niệm nếu không có quần áo lạnh khi về trời tổ tiên sẽ không nhận ra ḿnh.

Đồng bào dân tộc Mông rất tự hào về nghề dệt vải lanh đặc sắc của ḿnh. Cho đến nay, việc duy tŕ nghề này vẫn được chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm.

 

Nghề gốm Mường Chanh

Làm gốm là một nghề truyền thống của dân tộc Thái ở Mường Chanh.

Sản phẩm gốm làm ra chủ yếu là đồ gia dụng như chum, vại, lọ, hũ, liễn.… với nhiều chủng loại và kiểu cỡ khác nhau. Các sản phẩm đều được đảm bảo nhẵn bóng, được khắc hoa văn ch́m hoặc nổi. Theo tài liệu của Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, gốm Mường Chanh thuộc loại gốm trơn, có ưu điểm khó vỡ, ít ṛ rỉ và được dùng để ủ rượu, làm mắm, đựng măng chua có vị thơm ngon đặc biệt, để lâu không bị váng.

Trước đây nghề gốm khá phát triển. Vào lúc nông nhàn hầu như gia đ́nh nào cũng làm gốm. Thời điểm hưng thịnh nhất của nghề gốm Mường Chanh vào các năm 1979- 1985 khi gốm Mường Chanh có mặt ở khắp các huyện, thị trong tỉnh và một số địa phương của tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, cho tới nay gốm Mường Chanh đang phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm sành, sứ, nhựa nội ngoại được nhập ồ ạt trên thị trường.

Nghề dệt thổ cẩm ở Thèn Luông

Bản Thèn Luông cách trung tâm xă Chiềng Đông khoảng 1 km, nằm giữa hai dăy núi dài với những vườn cây ăn quả và những nếp nhà sàn xinh xắn. Nơi đây nổi tiếng với nghề dệt vải thổ cẩm lâu đời của người Thái

Thổ cẩm theo tiếng dân tộc Thái là '' khít''. Cầm trên tay tấm vải thổ cẩm của người Thái, người ta có thể nhận thấy màu xanh của cây, màu đỏ, màu trắng, màu hồng của những bông hoa rừng, màu vàng rực rỡ của ánh mặt trời. Những người thợ khéo tay tài hoa này c̣n tạo thêm trên nền vải khít, mặt chăn, gối của ḿnh những chú khỉ, chú sóc tinh nghịch trông như những bức hoạ vẽ về thiên nhiên.

Là một làng nghề truyền thống tạo nên những tấm thổ cẩm đẹp, nhưng đến nay Thèn Luông vẫn chỉ là dệt vải thủ công trên những chiếc khung dệt thô sơ làm bằng thanh tre, ống nứa, nên những sản phẩm làm ra thường không nhiều mà chỉ là những mặt hàng như túi, mặt chăn, mặt gối, riềm trang trí, khăn Piêu...Hơn nữa, nghề dệt ở đây mới phát triển theo hướng tự phát. Bà con tự dệt, tự t́m thị trường tiêu thụ, không có vốn đầu tư và sự định hướng.

Giữ được giá trị nghề dệt thổ cẩm, chính là giữ được nét văn hoá cổ truyền của đồng bào dân tộc Thái. Nếu biết kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính hiện đại th́ chắc chắn nghệ dệt thổ cẩm ở Thèn Luông sẽ tạo được những mặt hàng có giá trị kinh tế cao cạnh tranh với các mặt hàng bông vải sợi trên thị trường hiện na

Nghề rèn của dân tộc Mông

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nương rẫy, sử dụng cày trên khô, người dân tộc Mông sinh sống tại tỉnh Sơn La có nghề rèn kỹ thuật cao từ khá sớm. Trước đây, mỗi gia đ́nh đều có một ḷ rèn. Ḷ có thể được đặt ở ngay cạnh nhà hay trong những hang đá. Nghề rèn được làm vào lúc nông nhàn hay dịp đầu năm để chuẩn bị cho mùa nương, mùa ruộng mới.

Khâu đầu tiên trong công việc làm rèn là chuẩn bị than đốt và đắp ḷ. Ḷ được đắp bằng đất, cao khoảng 80 cm, h́nh trụ, đường kính khoảng 60 cm, mặt ḷ vơng xuống khoảng 15 – 20 cm để cho than vào. Công cụ làm rèn gồm bễ, đe, búa, kéo cặp và máng nước.

Các sản phẩm làm từ nghề rèn chủ yếu là công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như dao, cuốc, thuổng, hái cắt lúa, cày... Trong đó, cày là công cụ sản xuất điển h́nh với phương pháp đúc thủ công nhưng có khả năng cày sâu 10 – 15 cm. Lưỡi cày c̣n cắt đứt các rễ cây, cỏ dại, thích nghi với việc cày đất khô, dốc thoải và tương đối cao.

Làm rèn đều theo một quy tŕnh và cần có 2 người, một người kéo bễ để than trong ḷ cháy đều cung cấp nhiệt cho quá tŕnh rèn và một người rèn. Khi rèn, người ta cho sắt vào nung đỏ, đưa ra để lên đe dùng búa đập cho đến khi sắt nguội lại cho vào ḷ nung, cứ vừa nung sắt, vừa quai búa cho đến khi được sản phẩm ưng ư. Sau khi tạo xong dáng của sản phẩm tiến hành tôi sắt, máng gỗ đựng đầy nước, bỏ vào đó một ít một lượng muối tuỳ theo và chờ cho muối tan hết.