Lịch sử Lào Cai
 

Bản đồ hành chính tỉnh.

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đă có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang - là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lư, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh... Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được h́nh thành.

Vùng đất thị xă Lào Cai ngày nay xưa kia, có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. V́ thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lăo Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lăo Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đă dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đă thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3-1886) và khi hoàn thành công cuộc b́nh định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7-l-1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đă chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12-7-1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định băi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị đân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lư Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

- Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12-7-1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không c̣n. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lư Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xă Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Mông, Dao, Tày, Giáy... trong đó Người Mông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, c̣n lại là các dân tộc khác.

- Ngày 7-5-1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

- Ngày 27-3-1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đă nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

- Ngày 17-4-1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xă Lào Cai và Cam Đường thành thị xă Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

- Ngày 12-8-1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 1-10-1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Vên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xă.

- Ngày 9-6-1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xă Lào Cai thành hai thị xă Lào Cai và Cam Đường.

- Ngày 30-12-2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

- Ngày 31-1-2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định sáp nhập thị xă Lào Cai và thị xă Cam Đường thành thị xă tỉnh lỵ  Lào Cai.

- Ngày 1-1-2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

Hiện nay, tỉnh Lào Cai gồm thành phố Lào Cai và 8 huyện: Bảo Thắng, Bảo Yên, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương,Sa Pa, BátXát, Văn Bàn. Diện tích tự nhiên 6357,08 km2.

Vị trí địa lư: Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345km theo đường bộ. Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 (tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn); từ ngày 01/1/2004 (sau khi tách tỉnh Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên: 6.357,08km2.

Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc với 203 km đường biên giới.

Địa h́nh: Lào Cai nằm trong lưu vực của 2 sông lớn: sông Hồng, sông Chảy, có nhiều dăy núi cao nên địa h́nh bị chia cắt mạnh, độ cao thay đổi từ 80m tới trên 3000m so với mực nước biển. Điển h́nh là dăy núi Hoàng Liên có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m (cao nhất Đông Dương), Lang Lung cao 2.913m, Tả Giàng Ph́nh cao 2.850m.

Khí hậu: Lào Cai có nhiều vùng khí hậu, phân thành 10 kiểu sinh khí hậu và 43 khoanh vi khí hậu. Có 3 vành đai sinh khí hậu cơ bản và 2 mua tương đối rơ rệt: mùa khô  bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. Vùng cao nhiệt độ trung b́nh hàng năm từ 150C – 200C. Độ ẩm trung b́nh năm đến 80%, lượng mưa trung b́nh năm từ 1800mm-2000mm (ở mức cao nhất của Việt Nam). Vùng thấp nhiệt độ trung b́nh 230C – 290C, lượng mưa trung b́nh từ 1.400mm – 1.700mm.

Thổ nhưỡng: Đất có độ ph́ cao, màu mỡ, đa dạng bao gồm 10 nhóm, 30 loại đất, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau.

thị: 19%, nông thôn: 81%), mật độ dân số 90 người/km2 .

Dân tộc:25 dân tộc; dân tộc Kinh chiếm 35,9/%; dân tộc thiểu số chiếm 64,09%, trong đó: Mông: 21,21%, Tày: 15,84%, Dao: 14,05%, Giăy 4,7%, Nùng 4,4%, c̣n lại là các dân tộc khác; có những dân tộc đặc biệt ít người: La Chí, Bố Y, Sán D́u, Sán Chay, Hà Nh́, Phù Lá, Xa Phó.

Đơn vị hành chính: Có 1 thành phố (thành phố Lào Cai) và 8 huyện (Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai, Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng) với 163 xă, phường, thị trấn, trong đó có 125 xă vùng cao, 26 xă biên giới. Tỉnh Lào Cai được chia làm 3 khu vực:

- Khu vực I: Là các xă có điều kiện phát triển kinh tế - xă hội thuận lợi. Chủ yếu là các xă ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thị xă, giao thông và các dịch vụ xă hội thuận lợi (15 xă).

- Khu vực II: Là các xă có điều kiện phát triển kinh tế- xă hội khó khăn, phần lớn các xă này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại c̣n tương đối khó khăn; các dịch vụ xă hội cơ bản đă được đáp ứng tương đối tốt (40 xă).

- Khu vực III: Là các xă có điều kiện kinh tế - xă hội đặc biệt khó khăn, các xă ở vùng sâu vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thị xă; địa h́nh bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại c̣n rất nhiều khó khăn; các dịch vụ xă hội c̣n hạn chế (108 xă).


 

Tài nguyên thiên nhiên

1. Tài nguyên đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên 6.357,08 km2, thổ nhưỡng phong phú và đa dạng về khí hậu là điều kiện thuận lợi cho việc trồng nhiều loại cây có giá trị kinh tế khác nhau như: trồng các loại rau, hoa (Sa Pa), quả nhiệt đới và ôn đới, chè vùng cao (Mường Khương, Bắc Hà), có thể phát triển thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

2. Tài nguyên khoáng sản:

Lào Cai có trên 35 loại khoáng sản khác nhau với trên 150 điểm mỏ có giá trị công nghiệp, trong đó có nhiều loại khoáng sản quư, có chất lượng cao, trữ lượng lớn hàng đầu Việt Nam như: Apatít (2,5 tỷ tấn), đồng (42 triệu tấn), sắt (150 triệu tấn), graphít, nguyên liệu gốm, sứ, thủy tinh... Ngoài ra, tỉnh Lào Cai c̣n có nguồn tài nguyên rừng phong phú và đa dạng, là cơ sở để phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản.

3. Tài nguyên rừng:

Diện tích rừng tự nhiên 215.911,4 ha trong đó có 185.927,9 ha rừng pḥng hộ và đặc dụng, 29.983,5 ha rừng sản xuất. Diện tích rừng trồng: 48.827,6 ha, trong đó có 24.484,7 ha rừng pḥng hộ và đặc dụng, 24.342,9 ha rừng sản xuất. Diện tích rừng tự nhiên được phép khai thác: 29.983,5 ha. Diện tích rừng trồng được phép khai thác: 24.342,7 ha. Trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên: 18.000.000m3, tre, vầu, nứa: 240.000.000 cây. Trữ lượng gỗ trồng: 500.000 m3, tre, vầu, nứa: 1.000.000 cây.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) với hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú (có trên 2000 loài thực vật, trên 400 loài chim, thú, ḅ sát, rất nhiều loại động, thực vật đặc biệt quư hiếm, có kho tàng quỹ gien thực vật quư phong phú chiếm 50% số loài thực vật quư hiếm của Việt Nam).

Khả năng khai thác các loại gỗ rừng khoảng 900.000m3/năm, tre, vầu, nứa khoảng 10.000.000 cây/năm. Diện tích che phủ hiện nay là 46% diện tích này sẽ được tăng thêm trong những năm tới (số liệu thống kê đến ngày 1/1/2004).

4. Tài nguyên nước:

Lào Cai có mạng lưới sông suối khá dày đặc, mật độ trung b́nh đạt 1km/1km2. Trữ lượng nước mặt 9,3 tỷ m3, trữ lượng nước ngầm 30 triệu m3. Lào Cai có tổng số 107 sông suối chảy qua địa phận của tỉnh thuộc 2 hệ thống sông chính: sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chiều dài chảy qua tỉnh là 140, lưu lượng nước thay đổi lớn, mùa lũ gấp 42 lần mùa khô. Có nhiều phụ lưu lớn như: Ng̣i Phát, ng̣i Bo, ng̣i Đum, ng̣i Nhù…

Sông Chảy chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua huyện Si Ma Cai, Bắc Hà, Bảo Yên, chiều dài chảy qua địa phận Lào Cai là 120 km. Do hệ thống sông suối khá dày, độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh nên rất giàu tiềm năng cho phát triển thủy điện.

Giao thông:

- Đường bộ: Có 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn tỉnh (4D, 4E, 279, 70) với tổng chiều dài 400 km; 8 tuyến đường tỉnh lộ với gần 300 km và gần 1.000 km đường liên xă, liên thôn. Mạng lưới giao thông phân bố rộng khắp và khá đồng đều trên địa bàn các huyện, thành phố bảo đảm giao thông thuận lợi. Hiện tại tuyến quốc lộ 70 (Lào Cai - Yên Bái - Hà Nội) đang được nâng cấp thành đường 4 làn xe tiêu chuẩn.

- Đường sắt: Có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Pḥng - Hà Nội - Lào Cai (Việt Nam) Hà Khẩu - Côn Minh (Trung Quốc): Vận tải hàng hoá, hành khách quốc tế và trong nước. Hiện tại, tuyến này được đánh giá có hiệu quả về vận tải hàng hoá, hành khách đứng thứ 2 của Việt Nam, sau tuyến Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh và đang được đầu tư nâng cấp.

- Đường thuỷ: Có 2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc giữa tỉnh, tạo thành một hệ thống giao thông đường thuỷ liên hoàn.

- Đường hàng không: Chính phủ đă có chủ trương xây dựng Sân bay tại Lào Cai trong những năm tới.

Hệ thống điện: 919 huyện, thị xă; 115 xă, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, với 3 trạng biến áp 110KV, đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu về điện cho sản xuất, kinh doanh của các nhà đầu tư trước mắt cũng như lâu dài.

Cấp nước: Hiện tại, đă có hệ thống cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn tại thành phố Lào Cai và hầu hết các huyện, cùng với hệ thống giếng khoan đang cung cấp nước sạch cho 42% dân số toàn tỉnh.

Bưu chính viễn thông: Mạng lưới bưu chính viễn thông kỹ thuật số hiện đại được kết nối bằng cáp quang, truyền vi ba số tới 919 huyện, thị xă với 97 bưu cục và điểm bưu điện – văn hoá xă, hết năm 2005 sẽ có 100% số xă có điện thoại. Mạng điện thoại di động đă phủ sóng 6/9 huyện, thành phố gồm: thành phố Lào Cai và các huyện: Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát. Mật độ điện thoại đạt, trên 4,2 máy/100 người dân. Tỉnh Lào Cai miễn phí cước truy nhập Intemet cho các cá nhân, tổ chức khi truy nhập vào mạng Intemet/intranet dùng chung của tỉnh qua số máy 842180.

Nguồn lao động: Năm 2004 tổng số có 307.468 người (số người trong độ tuổi lao động là 296.074 người), trong đó số người có khả năng lao động là 291.028 người; số người ngoài độ tuổi thực tế tham gia lao động là 16.440 người.

Cơ cấu lao động theo các ngành nghề: Nông nghiệp và lâm nghiệp 78,07%; Thuỷ sản 0,04%; Công nghiệp khai thác mỏ 1,62%; Công nghiệp chế biến 2,37%; Sản xuất và phân phối điện, khí đạt và nước 0,22%; Xây đựng 3,29%; Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ và đồ dùng cá nhân 3,48%; Khách sạn và nhà hàng 0,90%; Vận tải, thông tin liên lạc 1,31%; Tài chính, tín dụng 0,21%; Hoạt động Khoa học và Công nghệ 0,05%; Hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn 0,13%; Quản lư nhà nước an ninh quốc pḥng 3,06%; Giáo dục & đào tạo 3,57%; Y tế và hoạt động cứu trợ xă hội 0,69%; Học động Văn hoá - thể thao 0,24%; Hoạt động đảng, đoàn thể, hiệp hội 0,52%; Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng 0,24%.

Giáo dục và đào tạo: Có 61 trường mẫu giáo, 174 trường tiểu học, 132 trường trung học cơ sở, 19 trường trung học phổ thông, 1 trường công nhân kỹ thuật, 1 Trường Trung học kinh tế kỹ thuật, 1 Trường trung học Y tế, 1 Trường Cao đẳng sư phạm. Toàn tỉnh hiện c̣n gần 4000 pḥng học cần được kiên cố hoá.

Y tế. 100% số xă, phường, thị trấn có Trạm xá và cán bộ y tế. Có 4 bệnh viện tuyến tỉnh, 8 bệnh viện tuyến huyện và 35 pḥng khám đa khoa khu vực với 2.145 giường điều trị.

Thành phố Lào Cai
Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai
Thành phố Lào Cai như dải lụa trải dọc phía Nam ngă ba sông Hồng, sông Nậm thi. Cách ngày này 50-60 triệu năm, trong đợt tạo sơn cuối cùng, vỏ trái đất vặn ḿnh, đứt găy tạo nên thung lũng sông Hồng (có địa bàn Lào Cai). Thành phố Lào Cai, trước Công nguyên đă là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá quan trọng ở ven bờ sông Cối (sông Hồng).

Thời phong kiến tự chủ ngay vùng ngă ba sông đă h́nh thành đô thị cổ khá sầm uất gọi là “Bảo Thắng quan”. Đó là cửa quan có thành luỹ, đồn binh bảo vệ, bất khả chiến bại. Bên hữu ngạn sông Hồng, đối diện với Hà Khẩu là “Lăo Nhai” – có nghĩa là phố cổ. Bên tả ngạn sông Hồng là một thung lũng bằng phẳng trồng nhiều cây gạo, mùa xuân hoa gạo đỏ rực bờ sông, v́ vậy gọi là “Cốc Lếu” (gốc gạo). Thành phố Lào Cai có diện tích tự nhiện: 22.150 ha, có 17 phường, xă: phường Lào Cai,  phường Phố Mới, phường Duyên Hải, phường Cốc Lếu, phường Kim Tân, phường Pom Hán,  phường Bắc Lệnh,  phường Thống Nhất,  phường Xuân Tăng, phường Bắc Cường, phường Nam Cường, phường B́nh Minh,  xă Vạn Hoà, xă Đồng Tuyển, xă Cam Đường,  xă Tả Phời, xă Hợp Thành. Thành phố Lào Cai là thành phố duy nhất trong toàn quốc nằm ngay sát đường biên giới, ở ngă ba sông Hồng và sông Nậm Thi. Thành phố Lào Cai c̣n là trung tâm các đầu mối giao thông toàn tỉnh. Từ đây, các tuyến đường lan toả về các huyện. Ngày 28/3/1898 cây cầu Hồ Kiều được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi nối liền cửa khẩu Trung Quốc với Lào Cai. Ngày 1/2/1906, ga Lào Cai được khánh thành nối liền Côn Minh với Hà Nội - Hải Pḥng. Hiện nay, mỗi ngày có hàng vạn lượt người qua cầu đường bộ Hồ Kiều II vừa được khánh thành cuối năm 2000, đường sắt sang Hà Khẩu, về Lào Cai.

Nhờ vậy, khu kinh tế cửa khẩu càng đóng vai tṛ đầu tầu, thúc đẩy kinh tế Lào Cai tăng tốc. Thành phố Lào Cai thực sự là trung tâm kinh tế của cả tỉnh.

Với vị thế nằm ngay trên đường biên giới, được coi trọng đầu tư trùng tu các di tích, thành phố Lào Cai đang trở thành điểm du lịch có quy mô lớn, mỗi năm hơn trăm ngàn lượt du khách Trung Quốc và các nước bạn đến thăm quan. Du khách đến Lào Cai, đi thăm các di tích, dạo quanh hệ thống đền chùa, người xem như thấy dấu ấn quá khứ đang trở về. Đó là ngôi đền Mẫu thờ bà chúa Thượng Ngàn cùng các vị thánh Đạo Mẫu. Đó là Đền Thượng thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo - Vị tướng lừng danh đánh giặc Nguyên Mông, năm 1257 đă chỉ huy quân đội Đại Việt pḥng thủ ở Lào Cai. Ngôi đền thờ toạ lạc trên đồi “Hoả Hiệu”.

Trên đỉnh đồi, phía sau hậu cung c̣n có nhà “Phượng Đ́nh” có 8 con rồng thời Trần chầu xung quanh. Nổi bật giữa “Phượng Đ́nh” là tấm bia đá khắc về sự tích ngôi đền thờ Đức Thánh Trần: “Đền được khởi dựng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hoà (1680-1705)… Đền xưa vẫn thâm trầm mặc uy nghi trên đỉnh Mai Lĩnh, nh́n xuống ḍng Nậm Thi uốn lượn…Hơn hai thế kỷ qua, đền không ngừng thu hút quần sinh, gồm đủ tao nhân mặc khách, nam thanh nữ tú, nam phụ lăo ấu, hành hương hướng thiện…”.

Đến Lào Cai, du khách c̣n muốn đến thăm thành cổ, pháo đài cổ. Thành cổ Lào Cai được xây dựng từ lâu đời, sử sách không ghi rơ. Năm 1872, sau khi đánh đuổi giặc Cờ Vàng ra khỏi Lào Cai. Sau nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, ngày nay dấu vết của thành cổ vẫn c̣n một đoạn chạy dài từ phía sau đền Mẫu dọc theo sông Hồng. Thành đắp bằng đất trộn sỏi mật mía, cao hơn 2 mét, có nhiều lỗ châu mai, tháp canh bảo vệ. Pháo đài cổ được người Pháp khởi công, người Nhật mở rộng pháo đài có hệ thống hầm ngầm nằm sâu trong ḷng núi, nhiều hang ngách chằng chịt chứa nhiều điều bí ẩn chưa được khám phá.

Du khách đến thăm Lào Cai, không chỉ hành tŕnh theo tua du lịch lịch sử mà c̣n đến thăm những công tŕnh kiến trúc văn hoá – kinh tế hiện đại. Đó là quảng trường, đài tưởng niệm liệt sỹ. Hoặc lặng lẽ đến viếng đài tưởng niệm – nhà bia ghi sự tích Hồ Chủ Tịch lên thăm Lào Cai (ngày 23-24/9/1958). Công viên Nhạc sơn -  điểm vui chơi, giải trí quy mô lớn của vùng biên giới.
Vùng biên thành phố Lào Cai trước khi tái thành lập tỉnh chỉ là đống đổ nát hoang tàn và cỏ. Nhưng ngày nay, cả thành phố đă xây dựng đường phố khang trang, hiện đại, gần 50% số hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố.

Huyện Sapa
Cầu vồng Sa Pa
Sa Pa tên gọi này từ tiếng quan thoại. Tiếng quan thoại gọi Sa - Pả, “Sa” là cát, “Pả” là băi. Đia danh của “băi cát” này ở bên phải cầu km 32 từ Lào cai vào Sa Pa. Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân ở vùng đất này đều họp chợ ở “băi cát” đó, do vậy, dân địa phương ai cũng nói là “đi chợ Sa Pả”.


Từ hai chữ “Sa Pả”, người Phương Tây phát âm không có dấu , nên thành Sa Pa và họ đă viết bằng chữ Pháp hai chữ đó là “Cha Pa” và một thờI gian rất lâu người ta đều gọi “Cha Pa” theo nghĩa của từ tiếng Việt.

C̣n thị trấn Sa Pa ngày nay, trước có một mạch nước đùn lên đục đỏ, nên dân địa phương gọi là “Hùng Hồ”, “Hùng” là đỏ, “Hồ” là hà, là suối, suối đỏ.

Sa Pa có 37.816 ngườI gồm 6 dân tộc cư trú là Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó và Kinh, ngoài ra cũng có hai hộ người Hoa cư trú ở thị trấn. Chạy dọc theo chân núi Hoàng Liên Sơn, từ phía Bắc dưới chân Ngũ Chỉ Sơn giáp Mường Hum (Bát Xát) đến phía Nam giáp vớI xă Nậm Chày, Nậm Mả (Văn Bàn)…vớI diện tích là 678 km2. Huyện sa Pa có 17 xă và 1 thị trấn.

Sa Pa có đỉnh Phan-Xi-Păng cao 3.143 m trên dăy Hoàng Liên Sơn. Gọi Hoàng Liên Sơn, bởI duy nhất trên dăy núi này có cây Hoàng Liên, một loại dược liệu quư, hiếm, ngoài ra dăy Hoàng Liên c̣n là “mỏ” của loài gỗ quư như thông dầu, của bao chim thú, như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương và của hàng ngàn loạI thuốc. Khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn có 136 loài chim, có 56 loài thú, 553 loài côn trùng. Có 37 loài thú được ghi trong “sách đỏ Việt Nam”. Rừng Hoàng Liên Sơn có 864 loài thực vật, trong đó có 173 loài cây thuốc.

Sa Pa có núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Ph́n ẩn hiện trong sương khói. Hiện nay, vớI bàn tay tôn tạo của con ngườI, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sa Pa. Và, nếu ai đă đến Thạch Lâm (Vân Nam, Trung Quốc) th́ Hàm Rồng cũng có thể giúp các bạn tưởng tượng là Thạch Lâm được. Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất.

Sa Pa c̣n có nhà thờ cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc, trên đường đi tớI động Tả Ph́n lại có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tạI một sườn đồi quang đăng, thoáng mát. Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến một hang động vớI độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội. Trong hang nhiều nhũ đá tạo nên những h́nh thù kỳ thú như h́nh tiên múa, đoàn tiên ngồI, cánh đồng xa, rừng cây lấp lánh. TạI Tả Ph́n này vớI hai tộc ngườI là Mông và Dao đă tạo nên cơ sở sản xuất mặt hàng thổ cẩm xuất bán cho cả nước và nước ngoài khá nổi tiếng.

Ngay ngườI Mường Hoa đi xa lâu ngày về cũng chỉ mong được ăn bữa cá của quê hương. Đặc biệt thung lũng Mường Hoa có 196 ḥn chạm khắc nhiều h́nh kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn vạn năm mà nhiều nhà khảo cổ học vẫn chưa giảI mă được những thông tin đó. Khu chạm khắc cổ đă được xếp hạng di tích quốc gia và đang được Nhà nước ta đề nghị xếp hạng di sản thế giới. Chúng ta ngước nh́n lên Thác Bạc từ độ cao trên 200 m những ḍng nước đổ ào ào tạo thành âm thanh núi rừng và mưa xuân.

Sa Pa là “vương quốc” của hoa trái, như đào hoa, đào vàng to, đào vàng nhỏ, mận hậu, mận tím, mận tam hoa, hoa lay dơn, hoa mận, hoa lê, hoa đào, hoa cúc, hoa hồng…đặc biệt là hoa bất tử sống măi vớI thờI gian…Ai đến đay cũng nhớ câu thơ:

Huyện Bắc Hà

Dinh Hoàng A Tưởng- Bắc Hà
Bắc Hà là huyện vùng cao tỉnh Lào Cai. Người địa phương (người Tày, Nùng) gọi là Pạc Ha (nghĩa là trăm bó gianh). Thời Pháp thuộc, các dịch giả người Pháp gọi là PaKha. Bắc Hà cũng như các huyện, thị khác có một quá tŕnh lịch sử phát triển lâu dài. Từ thời Hùng Vương thuộc đất Tây Âu của Thục Phán; thời Bắc Thuộc thuộc châu Cam Đường, quân Giao Chỉ; thời Lư thuộc châu Đăng; đời Trần thuộc lộ Quy Hoá; từ thời nhà Lê đến thời Pháp chiếm đóng thuộc động Ngọc Uyển, châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá.Năm 1907, t́nh Lào Cai thành lập là một châu của Lào Cai. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Bắc Hà vẫn là một huyện của tỉnh Lào Cai gồm 4 tổng: Bắc Hà, Lùng Ph́nh, Si Ma Cai và Bảo Nhai. Từ năm 1967, Bắc Hà được tách thành 2 huyện là Bắc Hà và Si Ma Cai thuộc tỉnh Lào Cai đến năm 1976 và Hoàng Liên Sơn đến năm 1979. Từ năm 1979-1991, Bắc Hà và Si Mai Cai sáp nhập lấy tên là Bắc Hà , là một huyện của Tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ tháng 10/1991 – 10/2000 là huyện thuộc tỉnh Lào Cai . Tháng 9/2000 Si Ma được tách ra tái lập lại huyện Si Ma Cai, hiện nay Bắc Hà c̣n lại 20 xă và 1 thị trấn.

Bắc Hà có tổng diện tích tự nhiên là 686,78km2 ; và dân số toàn huyện là 45.892 người gồm 14 thành phần dân tộc anh em cùng chung sống trong đó đông nhất là dân tộc Hmông, Dao, Tày, Nùng.

Thuộc vùng cao nguyên đá vôi và gồm nhiều dăy núi với thung lũng hẹp, đất nông nghiệp rất ít chủ yếu là đất lâm nghiệp, sông suối và có khí hậu á nhiệt đới , Bắc Hà có điều kiện thuận lợi phát triển các loại cây trồng , đặc biệt là cây ăn quả như mận tam hoa, mơ , lê , nhăn... Từ những năm 70 nhất là trong công cuộc đổi mới 15 năm trở lại Bắc Hà đă phát triển diện tích trồng cây ăn quả ôn đới nhất là mận tam hoa. Năm 2000 khi chưa tách huyện Si Ma Cai (9/2000) toàn huyện Bắc Hà đă có diện tích trồng mận tam hoa 1.950 ha; có năm chiếm 90% sản lượng mơ mận toàn tỉnh và trở thành kinh tế mũi nhọn của địa phương.

Cùng với đặc trưng về kinh tế, Bắc Hà c̣n nhiều trang sử đấu tranh oanh liệt chống giặc ngoại xâm tiềm ẩn trong các di tích c̣n tồn tại đến nay như: Thành cổ Trung Đô (xă Bảo Nhai) do chúa Bầu Vũ Văn Uyên cùng con cháu xây dựng những thập kỷ 30 đầu thế kỷ XVI để bảo vệ vùng căn cứ sông Chảy, là hậu cứ chống nhà Mạc bảo vệ biên cương . Căn cứ thủ lĩnh Giàng Chẩn Ḿn và Giàng Chẩn Hùng ở Lao D́n Phàng, Tà Chải, Trung Đô đánh tan giặc Hán cờ vàng cùng bọn tướng phỉ Sần D́n Pao khi chúng đem quân đánh chiếm Bắc Hà tháng 4/1872. Đánh bại âm mưu xâm chiếm Bắc Hà của bọn thực dân Pháp năm 1886. Phối hợp với cánh quân Cờ Đen phục kích ở dốc Trung Đô đánh tan một đại đội lính Pháp khi chúng tấn công lên Bắc Hà năm 1891; Căn cứ Triệu Tiến Tiên ở bản Cái, Nghĩa Đô tiến về Trúc Lâu (châu Lục Yên) làm cứ điểm chỉ huy phong trào kháng pháp ở hai tỉnh Lào Cai – Yên Bái đă từng được phong làm “quốc vương”. Ông đă tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân và tổ chức cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược tháng 10/1914; di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Hoàng A Tưởng ở thị trấn được xây dựng năm 1914 và hoàn thành năm 1921. Tuy đă trải qua 80 năm tồn tại cùng thời gian, phủ bao lớp rêu phong cổ kính nhưng vẫn đứng uy nghi nổi trội giữa khu dân cư đông đúc, phố xá tấp nập, là một di sản văn hoá góp phần t́m hiểu kiến trúc, lịch sử xă hội vùng dân tộc miền núi thời phong kiến Việt Nam đă được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

Bên cạnh các di tích lịch sử - văn hoá , Bắc Hà c̣n nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như: núi Co Tiên không chỉ đẹp về cảnh quan môi trường mà c̣n chức đựng nhiều truyền thuyết dân gian. Hang Tiên ở Bảo nhai với nhiều thắng cảnh đẹp kỳ vĩ có rừng nguyên sinh , những nhũ đá muôn h́nh vạn trạng, những chú voi, đại bàng, bồn tắm thiên nhiên, những hang lớn như mê cung huyền ảo , những rào luỹ đá, những tháp cổ to nhỏ, những đảo nắng đầy hoa thơm cỏ lạ, những truyền thuyết về miếu Ba cô có huyền bí thiêng liêng ... mời bạn đi du lịch trên sông Nậm Chảy.

Đặc biệt, cùng với mận tam hoa Bắc Hà c̣n có rượu ngô bản Phố trong vắt thơm ngon. Có chợ văn hoá nơi gặp gỡ của biết bao t́nh duyên đôi lứa thấp thỏm đợi chờ và bịn rịn chai tay – nơi đây bán dủ các loại hoa thơm cỏ ngọt; trang phục thổ cẩm các dân tộc Hmông, Dao với nhiều loại h́nh hoa văn rực rỡ. Có văn hoá ẩm thực với món ăn Thắng cố nghi ngút rượu nồng cùng với phở chua đầy hương vị rừng núi. Có các lễ hội Lồng Tồng cầu mưa với điệu múa xoè uyển chuyển của người Tày – Tà Chải , Na Hổi ; là những vốn văn hoá đặc sắc góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc.

Khai thác thế mạnh về kinh tế- văn hoá của địa phương , những năm qua Bắc Hà đă chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông – lâm - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ thu nhiều thành quả tích cực: Tốc độ phát triển kinh tế (GDP) và thu nhập b́nh quân đầu người ngày càng tăng lên, số hộ nghèo và đói ngày càng thu hẹp. Thời gian tới Bắc Hà tiếp tục phấn đấu tăng sản lượng lương thực và nhịp độ phát triển kinh tế xây dựng vững mạnh toàn diện thành điểm sáng trên vùng cao nguyên trắng.

Huyện Bát Xát

Dân tộc Dao đỏ ở Bát Xát

Bát Xát là gọi theo ngôn ngữ người Giáy. Gọi đúng từ, đúng âm là “Pạc srạt” với hai nghĩa hiểu khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “Một trăm tấm cót” bởi v́ “Pạc” là một trăm, “srạt” là tấm cót, c̣n nghĩa thứ hai là “miệng thác” hoặc “bến thác”, v́ “Pạc cũng có nghĩa là “miệng”, c̣n “srạt” có thể hiểu là “thác” hoặc sóng cuốn, có câu trong tiếng Giáy “rắm păn srạt” (nước cuốn cót”. Vậy hiểu Bát Xát theo nghĩa nào cũng chưa có dịp để xác định.

Bát Xát có 7 tộc người là Mông, Dao đỏ và Dao tuyển, Giáy, Hà Nh́, Hán, Tày và Kinh với 53.271 khẩu, cư trú trong 23 đơn vị hành chính. Bát Xát ở dọc theo Sông Hồng, phía Bắc là huyện Kim B́nh của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) phía Nam giáp thị xă Lào Cai, phía đông là Sông Hồng và tây giáp Sa Pa với diện tích 1.050 km2 .

Bát Xát có dăy Ngũ Chỉ Sơn, là đầu nguồn của “con sông Hồng chảy vào đất Việt”. Bát Xát có những cánh đồng của Quang Kim, Cốc San, đặc biệt có rừng thảo quả bạt ngàn, một loại dược liệu quư, tạo nên nguồn thu cơ bản cho nhân dân vùng cao Bát Xát và có mỏ đồng Sinh Quyền có trữ lượng khá lớn với 51 triệu tấn đang được khai thác mang lại nguồn lợi cho tỉnh, cho quốc gia. Công nghiệp khai khoáng ở Bát Xát phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy quá tŕnh công nghiệp hoá ở vùng cao.

Đặc biệt Bát Xát có quần thể hang động Mường Vi đă được xếp hạng danh thắng của quốc gia, có núi Tiên, nơi ngày xưa Tiên cho dân cư ở đây mượn bát đũa đồ dùng mỗi khi làng có việc vui, việc buồn. Nhưng do sự không trung thực của người trần gian, nên Tiên đă hoá các đồ vật thành đá. Tại hang “pạc cám”, có thể là nơi các nhà khảo cổ sẽ phải t́m đến để t́m những dấu tích của người xưa, c̣n hang ở Na Rin, chiều cao phải từ 5 đến 10 mét, chiều rộng của ḷng hơi hẹp cũng là 15 – 20 mét chỗ rộng phải từ 20 đến 30 mét, c̣n sâu sẽ phải đi 9 đến 10 tiếng đồng hồ, điều lư thú là suốt dọc chiều sâu của hang ta luôn luôn dọc theo con suối nước mát lạnh, trong veo. Hang nằm dưới chân núi cô Tiên, có nguồn nước chảy trong ḷng hang nên nhân dân gọi là động Thuỷ Tiên. Bên cạnh động Thuỷ Tiên c̣n có các động “Cám Rang” bên trong có mâm ngũ quả, cổng trời bằng nhũ đá kỳ ảo. Động Cám Rúm tức hang Gió có h́nh ruộng bậc thang, buồng ngủ cô tiên buông nhũ óng ánh. Động Cám Tẳm là kho nông cụ, đồ dùng của các nàng Tiên bị hoá đá…

Cùng với quần thể hang động, núi non kỳ thú, Bát Xát c̣n có Mường Hum, một ngôi làng người Giáy ở có con suối nước trong, lắm thác, nhiều cá chảy qua cạnh làng. Vượt Mường Hum qua Dền Sáng, một vùng chè của người Dao đỏ ta đến dải rừng già nguyên sinh với nhiều loại dược liệu và gỗ quư. Thoát khỏi khu rừng già sẽ đến một “vương quốc” riêng đó là Ư Tư, nơi người dân ở đây đi chợ bên Trung Quốc gần hơn đi chợ huyện. Nơi đây là một cao nguyên sương phủ, rét giá, nên nhà người Hà Nh́ ai cũng tŕnh tường và tạo thành hai lớp cửa để chống rét và chống cả cướp của thời ngày xưa.

Bát Xát c̣n có thác Tây trên con sông Hồng, nơi ngày xưa nghĩa quân của Bát Xát đă phục bắn ch́m tàu thuỷ của quân Pháp khi hành quân lên Trịnh Tường và từ đó, cái thác hùng vĩ trên sông đă có tên gọi “thác Tây”.
Ai đến Bát Xát chưa uống rượu San Lùng th́ coi như chưa từng đến Bát Xát. Rượu San Lùng là của người Dao đỏ San Lùng nấu bằng thóc. Rượu uống êm dịu, có mùi vỏ trấu th́ mới là chính hiệu.

Bát Xát có 7 tộc người th́ cũng có 7 nền văn hoá riêng, song sự tập trung làm cho văn hoá Bát Xát nổi lên hơn cả là văn hoá Giáy với những lễ hội “Roóng pọc” của các làng Giáy, với những đám cưới vui nhộn của đón dâu, của trống kèn pí lè, sự ồn ào của trai gái bôi phẩm đỏ để măi măi nhớ tới nhau. Cùng với sự đặc sắc của văn hoá Giáy là văn hoá Hà Nh́ đen, một dân tộc duy chỉ có ở Bát Xát - người Hà Nh́ sống ở tận cao nguyên Ư Tư, bốn mùa mát lạnh, đêm buông làng, bản vang vọng tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng đàn tṛn của trai gái t́m nhau và chàng nào ưng nhau là có thể đi sống với nhau đêm này qua đêm khác ở tại lều ruộng, lều nương chỉ với một chiếc chăn chiên. Dân tộc Hà Nh́ nơi đây có lễ hội Khô già già cầu mùa vào mồng 6 tháng 6 âm lịch đầy ấn tượng với các tṛ chơi, tục cúng tế.

Thành tựu nổi bật trong 15 năm đổi mới, xây dựng Bát Xát là giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 65% năm 1986 xuống c̣n 23% năm 2000, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ. Đường giao thông đă mở rộng xuống các xă. Ngay vùng cao Ư Tư – cao nguyên mù sương gập ghềnh núi cao, khe sâu đến nay người dân đă vượt núi, băng ngàn trên những chuyến xe ca ra huyện, ra thị xă Lào Cai. Khu mỏ đồng Sinh Quyền được đầu tư khai thác góp phần thúc đẩy kinh tế - xă hội huyện vùng cao Bát Xát phát triển.

Huyện Mường Khương

Thắng cố Mường Khương

Mường Khương là huyện vùng cao biên giới tỉnh Lào Cai: Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Mă Quan và Hà Khẩu tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với chiều dài 96 Km, có 2 cửa khẩu quốc gia đất liền là Sín Tẻn và Pha Long; do đó, có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Mường Khương là tên gọi tiếng Việt mới có từ thời Pháp thuộc. Thực tế nhân dân địa phương gọi là Mưng Khangw (tức Mường Gang) theo truyền thuyết dân gian lư thú kể rằng: “Ngày xưa, có một thầy địa lư mang theo túi mật ngựa đi chọn đất đai để sinh cơ lập nghiệp. Đến nơi đây ông bỗng nh́n thấy dưới lớp đất là một biển nước mênh mông, có hai cột sắt ở giữa và bốn cột gang phía ngoài chống đỡ 4 góc làm cho mảnh đất này tồn tại vững chắc. Nên mới đặt tên Mưng Khangw và tồn tại đến nay”. Ở nơi phát hiện này không chỉ được bảo tồn mà hiện nay c̣n được cấp uỷ, chính quyền huyện tôn tạo xây dựng thành công viên mi-ni có đài phun nước hoa sen tuôn măi tiêu biểu cho khí phách trường tồn của non nước, con người Mường Khương.

Mường Khương có tổng diện tích tự nhiên là 552,26 Km2 gồm 16 đơn vị hành chính và 14 dân tộc anh em cùng chung sống với tổng dân số toàn huyện là 43.224 người, trong đó đông nhất là dân tộc Hmông.

Bù đắp cho địa h́nh phức tạp nhiều vực sâu chia cắt, đất canh tác nông nghiệp hạn chế với ba tiểu vùng khí hậu khác nhau không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng Mường Khương có điều kiện phát triển các loại cây ăn quả, cây đặc sản, dược liệu và chăn nuôi đàn gia súc. Do đó kinh tế Mường Khương chủ yếu là thâm canh kết hợp vưói phát triển cây con như trồng mận hậu, mận tam hoa, lê, mơ, thảo quả, Chè, đậu tương và chăn nuôi trâu, ngựa dê, ḅ theo hướng sản xuất hàng hoá. Từ thế kỷ XIX, Mường Khương đă có các phiên chơ vùng cao (Mường Khương, Cao Sơn, Pha Long, Bản Lầu) trao đổi hàng hoá, trong đó chợ Chậu (Lùng Vai) đă trở thành trung tâm buôn bán nổi tiếng ở miền Đông châu Thuỷ vĩ.

Đặc biệt, Mường Khương được thiên nhiên và xă hội phú cho những danh lam thắng cảnh kỳ vĩ và truyền thống văn hoá dân tộc, giàu bản sắc c̣n tồn tại lưu truyền đến ngày nay. Đó là động Hàm Rồng nằm ở xă Tung Chương Phố cách trung tâm huyện lỵ 1,5 km; xung quanh có làng bản, trường học; cánh đồng Tùng Lâu – Na Bủ rộng mênh mông bát ngát là một trong hai vựa thóc lớn nhất huyện; động Hàm Rồng là một quần thể gồm 4 hang khác nhau trong đó có 2 hang chính nối liên hoàn với nhau dài gần 750m. Ngoài suối nước và đàn cá bơi lội tung tăng, trong động có nhiều nhũ đá đẹp nằm trong không gian rộng và thoáng có thể bơi thuyền đi lại nếu tôn tạo đường đi lối lại dễ dàng, từ lâu đă thu hút nhiều đoàn khách đến tham quan văn cảnh; là hang Lũng Pâu (cùng xăTung Chung Phố) nằm sâu trong ḷng dăy núi đá vôi sừng sững. Nơi đây năm 1959 đă phát hiện ra trống đồng Pha Long (thuộc Hêgơ I) nổi tiếng có niên đại cách đây 4000 năm; là hang Nắm Oọc (xă Nấm Lư) với nhiều nhũ đá, tượng bụt kỳ ảo và lễ hộidân gian đặc sắc của người Nùng các thôn bản nơi đây; là Sừ Ma Tủng c̣n gọi là hang Mười Ngựa (Tả Ngải Chồ) tụ điểm hoạt động của bọn phỉ Châu Quang Lồ khét tiếng, tay sai của thực dân Pháp đă bị quân dân địa phương và các đơn vị bộ đội chủ lực tiêu diệt góp phần giải phóng khu Pha Long năm 1952. Và khu hang động Cao Sơn với những dăy núi chập chùng cao chót vót không chỉ là chứng tích “phơi thây xác giặc” chống bọn phong kiến phương Bắc với huyền thoại “khe diệt Hán” in đậm trong tâm thức nhân dân mà c̣n là căn cứ hoạt động cách mạng chống Pháp, tiễu phỉ ở Mường Khương, là khu vực pḥng thủ an ninh - quốc pḥng bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc thời kỳ xây dựng CNXH và thời đại ngày nay.

Mường Khương c̣n có các lễ hội dân gian như: Hội Cúng rừng cấm bang của người Nùng không chỉ cầu bản, cầu mùa, cầu trời đất thiên nhiên và tổ tiên phù hộ con người có cuộc sống “an khang thịnh vượng” mà c̣n góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và ǵn giữ những giá trị thuần phong mỹ tục của dân tộc ở làng quê miền núi; lễ tết 23 tháng 6 người Pa Dí với xôi màu các loại tưởng nhớ tổ tiên đă phù hộ cho họ chiến thắng giặc ngoại xâm, có cuộc sống phồn vinh hạnh phúc như mái nhà che nắng đỡ mưa đă trở thành biểu tượng mũ đội đầu người phụ nữ Pa Dí; lễ tết Mồng Một tháng 7, làm xôi 7 màu là lễ tết cúng trời tưởng nhớ tới công ơn trời đất, thiên nhiên và tổ tiên đă phù hộ cho người Nùng chiến thắng giặc ngoại xâm bảo tồn ṇi giống dân tộc, thể hiện đạo lư “Uống nước nhớ nguồn” truyền thống quư báu của dân tộc Việt Nam; và lễ hội Sải Sán (c̣n gọi là hội leo núi) của đồng bào Hmông (Pha Long) là lễ hội cầu phúc hoặc cầu mệnh, cầu trời phù hộ cho con người mạnh khoẻ, con cháu sinh sôi, t́nh duyên nên lứa... Trong các lễ hội c̣n tổ chức nhiều cḥ trời dân gian, múa khèn và hát đối đáp giao duyên, thực sự là ngày hội văn hoá của dân tộc.

Xuất phát từ vị trí chiến lược quan trọng ở nơi biên cương Tổ quốc, trong những thập kỷ qua nhất là những năm 1996-2000, huyện Mường Khương đă phát huy các tiềm năng kinh tế và văn hoá địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lư, đạt được nhiều thành tựu quan trọng đưa nhịp độ kinh tế huyện ngày càng tăng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao; bộ mặt kinh tế - xă hội ngày một khởi sắc, xứng đáng với mảnh đất huyền thoại nơi biên cương anh hùng.

Huyện Si Ma Cai

Chợ ngựa CLICK hinh`

Địa danh Si Ma Cai có nghĩa là “Chợ ngựa mới”, bởi v́ xưa kia chợ họp sáu ngày một phiên ở phố Cũ. Địa thế phố Cũ tương đối bằng phẳng, nên người dân dựng nhà san sát hai bên người tạo nên dăy phố; đông thời bao quanh phố Cũ là mọt khu rừng, và có một chỏm rừng cấm, thành ra người dân phố Cũ có dư thừa nguồn nước, thậm chí người ta c̣n khai phá được hẳn một vạt ruộng nước. Dần dần chợ được chuyển lên khu lưng chứng núi, tuy thiếu nước, nhưng địa thế thoáng đăng, tầm mắt có thể nh́n bao quát được cả một vùng rộng lớn, và cái tên Si Ma Cai được h́nh thành, theo âm tiếng Hmông là Xênh Mùa Ca.

Si Ma Cai là huyện vùng cao mới được tái thành lập có diện tích tự nhiên là 234,54km2 gồm 13 xă có 11 dân tộc chung sống ở 97 thôn bản. Trong đó đông nhất là đồng bào Hmông, chiếm hơn 80% dân số trong tổng số khoảng 22.400 người.

Người Hmông có kho tàng văn hoá dân gian độc đáo với lễ hội “Sải sán” và ḍng suối dân ca thấm đậm chu kỳ đời người. Những điệu múa người Hmông Si Ma Cai đều in đậm dấu ấn các thế vơ. Dù múa gậy tiền, múa khăn, đến múa “Ĺnh cha”, múa gậy… đều có các động tác vũ thật nhanh, mạnh. Người Nùng, người La Chí lại có một số lễ hội gắn với thiên nhiên, bảo tồn các khu rừng cấm, bảo vệ môi trường. Nhưng sắc thái văn hoá các dân tộc ở Si Ma Cai phản ánh đậm nét nhất ở chợ phiên. Chợ phiên không chỉ là trung tâm trao đổi kinh tế mà c̣n là giao lưu văn hoá.

Nếu như Sa Pa, Bắc Hà và nhiều nơi khác hiện nay đă chuyển dần tính giao lưu sang tính thị trường mua bán, th́ Si Ma Cai vẫn c̣n giữ nguyên được sắc thái riêng của nó. Đầu tiên, tại các ngơ chợ là nơi buộc ngựa. Tiếp ngay đó, là các ḷ rèn. Vào chợ, dọc theo hai bên, ta sẽ thấy các dăy hàng được sắp đặt theo một trật tự nhất định: đó là dăy hàng mía, dăy hàng chuối hột, vải rừng… hàng lương thực, dăy thổ cẩm… c̣n hàng các con giống, như: lợn, gà, vịt, ngan… được quy định một góc chợ riêng. Phía sau hai dăy hàng dọc theo đường trục, là các hàng quán mà “thắng cố” là món ăn đặc trưng của vùng này. Người đến chợ là giao lưu t́nh cảm hỏi thăm tin tức họ hàng, kinh nghiệm làm ăn. Chợ c̣n là trung tâm truyền tin. Đưa đẩy và cùng nâng bát rượu nồng bên bàn “thắng cố”, ta sẽ có đông thêm bạn bè, anh em được kết nghĩa khi đă thổ lộ hết tâm can.

Tổng diện tích tự nhiên 23.454 hécta, th́ chỉ có 6.447 hécta đất canh tác. Nhưng canh tác đây, phải hiểu theo nghĩa của người vùng cao. Trong số diện tích đất canh tác ấy, th́ đất lâm nghiệp đă chiếm mất 3.485 hécta. Ấy thế mà những người nông dân vùng cao vẫn cứ hồn nhiên, vui vẻ, vẫn yêu quư mảnh đất của ḿnh, và tuy cuộc sống có vất vả, lam lũ, nhưng trên sàn gác, dưới mái hiên vẫn treo đầy những sào ngô, đỗ tương. Vật lộn với đá, thâm canh trên đá, người dân Si Ma Cai đă đạt mức b́nh quân lương thực khá cao khoảng 350 kg/người/năm. Có điều, lương thực chính quư đều có hương vị, giác vị rất riêng mang tính đặc chủng đặc biệt, có thể v́ chúng được gieo trồng trong những hốc đá, trên những mảnh nương cần, và được chủ nhân cày bừa kỹ, lại gùi từng thồ phân chuồng bón cho từng gốc.

Ngày nay, người dân Si Ma Cai được tiếp cận với cung cách làm ăn mới do được cán bộ, đảng viên tuyên truyền, phổ biến, được nghe đài, xem truyền h́nh, cả truyền h́nh bằng tiếng Hmông, nên cả huyện đă xuất hiện nhiều mô h́nh kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao. Diện tích cây ăn quả phấn đấu đạt 650 ha, mỗi năm cung cấp 1.500 tấn quả. Số hộ nghèo đói đă giảm nhanh chỉ c̣n 11%, tỷ lệ hộ giàu tăng lên 8,8%. Toàn huyện có 60/97 thôn bản được xem truyền h́nh. Tất cả 13 xă đều có đường ô tô. Si Ma Cai đang bước vào vận hội mới với tốc độ “phi mă”.

Huyện Bảo Thắng

Bảo Thắng là vùng thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng thuộc vùng đất cổ nằm chính giữa tỉnh Lào Cai cùng với thị xă Cam Đường. Từ buổi b́nh minh dựng nước thuộc đất Tây Âu của Thục Phán, thời Bắc thuộc là châu Cam Đường quận Giao Chỉ; đời Lư thuộc Châu Đăng; đời Trần thuộc Quy Hoá; từ thời nhà Lê đến thực dân Pháp chiếm đóng (1886) thuộc châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá, tỉnh Hưng Hoá. Năm 1928 châu Bảo Thắng gồm 11 xă, và tên Bảo Thắng xuất phát từ châu Bảo Thắng ra đời vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX.

Hiện nay, Bảo Thắng có 15 đơn vị hành chính gồm 12 xă và 3 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 668,95 km2 và dân số: 99.819 người đông nhất so với các huyện, thị trong tỉnh gồm 13 thành phần dân tộc cùng cư trú xen kẽ với nhau trong đó đông nhất là dân tộc Kinh, Dao, Tày.

Địa h́nh Bảo Thắng là một dải thung lũng hẹp chạy dài ven sông Hồng có phía Tây là dải núi thấp của dăy Phan-Xi-Păng – PúLuông và Đông là của dăy thượng nguồn sông Chảy án ngữ. Dọc chiều dài Bảo Thắng có con sông Hồng và tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội chạy qua, phân huyện thành hai bên tả ngạn và hữu ngạn trong đó khu hữu ngạn có nhiều suối lớn rất thuận lợi cho giao thông. Nên từ xa xưa Bảo Thắng đă là cửa ngơ tiền đồn trọng yếu vùng Tây Bắc Tổ quốc với biệt danh “cửa quan Bảo Thắng”.

Đất đai Bảo Thắng chủ yếu là đất lâm nghiệp. Đất canh tác ít, tập trung ở các thung lũng ven sông, suối c̣n lại là đất Feralít thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả. Từ năm 1995 huyện đă có nông trường Quốc doanh chè Phong Hải với diện tích 300 ha và công suất 10 tấn/ngày, ngày nay đang triển khai nhanh dự án vùng nguyên liệu chè trên 2.000 ha và h́nh thành cơ sở chế biến 42 tấn/ngày. Bên cạnh địa h́nh, đất đai thuận lợi Bảo Thắng c̣n là đầu mối giao thông có đường sông, đường bộ, đường sắt toả đi khắp các khu vực Bắc Nam thuận lợi, thu hút các cư dân khắp mọi miền đến sinh cơ lập nghiệp ngày càng đông đúc h́nh thành 3 thị trấn sầm uất (Phong Hải, Phố Lu, Tằng Loỏng) với số lượng dân cư đô thị ngày càng tăng và trở thành huyện đông nhất tỉnh có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế thương mại.

Đặc biệt cùng với thị xă Cam Đường, Bảo Thắng có nhiều mỏ khoáng sản và khu công nghiêp Tằng Loỏng chế biến sản xuất các chất hoá học và phân bón phục vụ sản xuất công nông nghiệp làm giàu cho Tổ quốc, góp phần thay da đổi thịt bộ mặt kinh tế - xă hội địa phương.

Các địa h́nh, tài nguyên Bảo Thắng rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế cơ cấu nông – lâm – công nghiệp – thương mại - dịch vụ trong đó đặc trưng chủ yếu là trồng chè, mía, nhăn, vải, buôn bán hàng hoá và dịch vụ.

Là vùng đất cổ, Bảo Thắng có nhiều di sản văn hoá lâu đời là các di tích Khảo cổ học từ thời đại đồ đá cũ với nền văn hoá Sơn vi cách đây trên 1 vạn năm đến văn hoá Hoà B́nh, Phùng Nguyên và nền văn minh Đông Sơn rực rỡ mà tiêu biểu là di chỉ khảo cổ học ng̣i Nhũ ở Sơn Hà. Ở đây có thể t́m thấy các loại ŕu đá mài nhẵn, ŕu có vai, ŕu đồng, mũi lao đồng…và cùng với nhiều nơi khác như Phố Lu, Xuân Giao đă minh chứng địa bàn cư trú lâu đời của con người Bảo Thắng.

Nối tiếp với văn hoá khảo cổ đó là các di tích lịch sử văn hoá và danh thắng: Bến Đền (Gia Phú) – nơi nghĩa quân Gia Phú phục kích nổ súng bắn chết nhiều tên Pháp ngày 25/3/1886 khi chúng tiến quân đánh chiếm Bảo Thắng để thể hiện tinh thần yêu nước và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta; căn cứ cách mạng Gia Phú – Xuân Giao – Cam Đường góp phần xây dựng lực lượng, phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh vũ trang, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa vũ trang Cam Đường đêm 19/12/1948; đồn Phố Lu – nơi diễn ra cuộc tấn công chiến đấu quyết liệt suốt 5 ngày 6 đêm của bộ đội chủ lực (trung đoàn 102) và quân dân địa phương từ ngày 8/2/1950 – 13/2/1950 mở đầu chiến dịch Lê Hồng Phong màn I; đó là động Tiên đẹp nổi tiếng ở xă Xuân Quang với nhiều cảnh quan tuyệt diệu.

Cũng như nhiều huyện thị khác, các dân tộc Bảo Thắng c̣n giữ được nhiều lễ hội dân gian đặc sắc như lễ Lập tịch người Dao Họ ở Khe Mụ, lễ Trừ tà đón xuân người Xá Phó làng An Thành (Gia Phú), hội Xuống đồng của đồng bào Tày với sinh hoạt hát then, hát giao duyên trong những đêm xuân.

Kết hợp nhiều tiềm năng kinh tế - xă hôi tổng hợp của địa phương, Bảo Thắng đă và đang tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang sản xuất hàng hoá các loại cây trồng, vât nuôi với những hướng đầu tư khác nhau một cách phù hợp như: mở rộng diện tích trồng mía, cây ăn quả, cây chè, góp phần nâng cao tổng sản phẩm giá trị kinh tế địa phương xây dựng huyện Bảo Thắng ngày một vững mạnh toàn diện.

 

BACK