Trang Chủ

   

Phố chùa Láng
 

Chùa Láng, tên chữ Chiêu Thiền Tự xây dựng từ thế kỷ XII đời vua Lư Thần Tông trên đất làng Yên Lăng (tục gọi làng Láng) bên bờ sông Tô Lịch, trước thuộc huyện Thanh Tŕ, sau thuộc huyện Từ Liêm nay là phường Láng, quận Đống Đa.

Chùa Láng toạ lạc trên một khu đất rộng, cây cối um tùm, xưa được gọi là "đệ nhất tùng lâm" (rừng thông đẹp nhất) của Thăng Long. Đây là nơi tu hành của Từ Đạo Hạnh - nhà sư nổi tiếng thời Lư. Chùa lập ngay trên nền nhà cũ của cha mẹ ông. Tục truyền, khi Từ Đạo Hạnh đắc đạo, hoá kiếp ở chùa Thầy, đầu thai làm con trai Sùng Hiền Hầu, em vua Lư Nhân Tông. Nhà vua không có con nên lập cháu con người em làm thái tử và trở thành vua Lư Phần Tông, kiếp sau của Từ Đạo Hạnh.

Cùng với giá trị lịch sử, di tích chùa Láng c̣n nổi tiếng bởi quy mô kiến trúc bề thế lộng lẫy với ba lớp tam quan, đường gạch lớn; giữa sân rộng là nhà bát giác, kiến trúc độc đáo. Liền sau xây dựng nhà tiền đường, trung đờng, thiên hương, thượng điện. Hai bên thượng điện lại dựng hai dăy hành lang, phía sau dành xây nhà treo chuông, nhà khách, khu nhà tổ, nhà mẫu.

Trong chùa có nhiều đồ thờ cổ như khám rồng thế kỷ XVII, hai bộ kiệu thế kỷ XVIII, 13 tấm bia ghi sự tích và các lần trùng tu chùa, trong đó có tấm bia niên hiệu Thịnh Đức tứ niên (1656) rất giá trị. Chùa có 198 pho tượng, trong đó có tượng vua Lư Thần Tông, đặc biệt nhất là pho tượng Từ Đạo Hạnh đan bằng mây phủ sơn son bên ngoài. Trước đây, chùa c̣n có cuốn sách đồng của vua Lư thường dùng để tụng niệm.

Hội chùa Láng diễn ra vào ngày 7-3 âm lịch, trước đây có tục rước kiệu lội qua sông Tô lên làng Dịch Vọng Tiễn để thăm mẹ Từ Đạo Hạnh được thờ ở chùa Hoa Lăng.

Chùa Láng - nơi hội tụ nhiều giá trị đặc sắc - là di tích cổ sáng giá bậc nhất của Thủ đô ta. Vào tháng 7-2001, tại kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố khoá 12 đă ra nghị quyết đặt đoạn đường từ phố Nguyễn Chí Thanh qua chùa Láng đến đường Láng dài 1000m rộng 5m là phố Chùa Láng.

Phố Dă Tượng

Tên một phố, dài 192m, đi từ phố Lư Thường Kiệt đến phố Trần Hưng Đạo, thuộc quận Hoàn Kiếm. Hồi giữa thế kỷ XIX, đây là đất thôn Phụ Khánh (do hợp nhất hai thôn: Nam Phụ và Nguyên Khánh, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương mà thành). Thời Pháp thuộc, phố có tên là Lăm-be (Rue Lambert).

Phố mang tên Dă Tượng là một gia tướng của Trần Quốc Tuấn, đă có nhiều công trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên (1285 và 1288), cùng gia tướng Yết Kiêu hai người đều nổi danh tài bơi lặn thuỷ chiến đục thủng thuyền giặc.

Phố Đào Duy Anh

 
Phố Đào Duy Anh


Tên một phố, lập năm 1995, dài 610m, đi từ ngă tư Kim Liên vào khu tập thể Kim Liên, Trung Tự rồi đến phố Phạm Ngọc Thạch. Phố này được xây dựng trên nền đất xưa vốn thuộc phường Kim Hoa (sau đổi là Kim Liên), tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương. Nay phố thuộc phường Kim Liên, quận Đống Đa. 

Phố mang tên Đào Duy Anh (1904 - 1988) là nhà văn hoá, chuyên gia nghiên cứu văn học, sử học, ngôn ngữ học, Hán Nôm. Ông đă viết các sách từ điển Pháp - Vịêt, Hán - Việt, từ điển Truyện Kiều. Ông từng làm thư kư toà soạn báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng lập. Năm 1927, ông vào Đảng Tân Việt, mở Quan hải tùng thư. Sau 1945, ông dạy học ở các trường Đại học Sư phạm, Tổng hợp, công tác ở Bộ Giáo dục, Viện Sử học.

Phố Hàng Bún 

Tên một phố dài 484m đi từ đường Yên Phụ cắt các đường: Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Trường Tộ, Quán Thánh, đến phố Phan Đ́nh Phùng, thuộc quận Ba Đ́nh. Thời Pháp thuộc cũng gọi là phố Hàng Bún (Rue des Vermicelles).

 
Phố Hàng Bún

Từ xưa đến nay phố này đều có tên là Hàng Bún. Đây cũng có thể coi là ranh giới phía Bắc của các "phố phường" xưa có chữ "Hàng"

Xưa kia phố Hàng Bún thuộc đất của hai thôn Yên Ninh và Yên Thành, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận. Ở bản đồ Hà  Nội năm 1831 có vẽ phố này và chỗ nối giáp với đê Yên Phụ là cửa ô Thạch Khối. Di tích cũ ở đây c̣n hai ngôi đền: Đền Anh ở số nhà 15, thờ bách linh (người chết vô thừa nhận) và đền Thuỷ Thiên Quang, thờ Châu Nương, ở số nhà 34. Sở dĩ có tên Hàng Bún bởi v́ xưa dân thôn Yên Ninh ở đây có nghề làm bún sợi nhỏ và trắng nổi tiếng.

Phố Hàng Bút  

Đó là tên một con phố dài 68m cắt ngang phố Thuốc Bắc và phố Bát Sứ (phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm - Hà Nội). Phố này trước kia tên là phố Hàng Mụn v́ chuyên mua mụn vải thừa từ các nhà may để may quần áo, mũ, tất trẻ em, đặc biệt là khâu các bùa túi trẻ em đeo vào các dịp tết Trung Thu.

Thời Pháp thuộc, phố có tên là phố Côngbanez (Rue Combanère), chuyên bán giấy vở,  bút mực, bút lông cho học sinh. Sau năm 1945, phố này được đổi thành phố Hàng Bút (thực ra phố Hàng Bút trước đây ở đoạn cuối phố Thuốc Bắc, đoạn này được sáp nhập vào phố Thuốc Bắc). Khu phố này được xây dựng trên nền đất thôn Đông Thành, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương). Ngôi đền của thôn Đông Thành cũ có cửa chính ở nhà số 7 phố Hàng Vải, c̣n cổng sau của đ́nh là nhà số 6 phố Hàng Bút.(HNM)

Phố Hàng Chai   

Giữa ngă ba các phố Hàng Lược - Hàng Rươi - Hàng Cót (thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội) có một ngơ phố ngang khoảng 80 mét có tên là phố Hàng Chai. Thời Pháp thuộc, ngơ phố này có tên là phố Ngơ Ngang. Sau đó đổi tên thành Hàng Chai v́ thời Pháp thuộc ở đây có bán những chai lọ và bao chè cũ. Phố này rất hẹp và ngắn.

Lịch sử phố này trước kia là đất thôn Tân khai nằm bên bờ tây sông Tô Lịch (đoạn này sông Tô gần trùng với phố Hàng Lược ngày nay). Thôn này thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương cũ.

Cho tới những năm 30 của thế kỷ XX, ở giữa c̣n có một cái đ́nh thờ vị tổ hát Ả đào. Đ́nh ở phía sau nhà số 7. Tương truyền, tổ nghề này là vợ chồng Đinh Dự (con của Đinh Lễ). Tại làng Lỗ Khê, thuộc xă Liên Hà, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, hiện c̣n đền thờ hai vợ chồng Đinh Dự, có thần tích và tượng của hai vợ chồng. Đ́nh Hàng Chai là nơi thờ vọng, nhưng trước đây hàng năm, các ả đạo tụ về đây giỗ Tổ, hát chầu thánh tổ, múa bài bông.(HNM)

Phố Hàng Chiếu 

Đi từ phố Trần Nhật Duật, cắt ngang phố Đào Duy Từ, rẽ vào cửa Ô Quan Chưởng, ta bắt gặp phố Hàng Chiếu. Phố Hàng Chiếu dài 276m, đi qua ngă ba phố chợ Thanh Hà, cắt ngă tư Nguyễn Thiện Thuật - Hàng Giầy tới phố Đồng Xuân, nối với phố Hàng Mă, quận Hoàn Kiếm - Hà Nội.

 

Ô Quan Chưởng - một trong năm cửa ô của Hà Nội

Thời Pháp thuộc, phố có tên là Giăng Đuypuy (Rue Jean Dupuis), nhưng dân chúng vẫn quen gọi là phố Mới hoặc phố Đông Hà v́ phố này có sau 36 phố cổ. Tên phố Hàng Chiếu trước đây là nơi gần bờ sông Hồng, có nhiều cửa hàng bán chiếu cói và các đồ dùng bằng cói. Sau này, mặt hàng chiếu lui dần vào phía trong phố Hàng Chiếu hiện nay. Ngày nay, phố này vẫn giữ truyền thống bán chiếu và là phố gần khu chợ Đồng Xuân nên có nhiều mặt hàng bán phong phú hơn.

Phố này vốn thuộc đất thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương cũ. Đ́nh của thôn ở đầu Ô Quan Chưởng. Đến năm 1817 sửa chữa cửa ô, mở rộng thêm đường nên đ́nh phải dời vào chỗ mới, nay là số 77 phố Hàng Chiếu, cửa đ́nh quay sang phố Ngơ Gạch, chỗ nhà số 10. Đ́nh thờ ông Trần Lưu, tương truyền ông đă có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.(HNM)

Phố Hàng Cháo

Tên một phố dài 200m, đi chéo góc từ phố Nguyễn Thái Học sang phố Tôn Đức Thắng, gần sân vận động Hà Nội (Hàng Đẫy), thuộc quận Đống Đa. Thời Pháp thuộc, gọi phố này là "đường 206", sau đổi là phố Phan Phù Tiên, rồi phố Bảng Nhăn Đôn, sau 1947 được đổi lại là Hàng Cháo

Thời Lê đă có tên Hàng Cháo, có thể vào thời Hậu Lê ở đây có các hàng bán cháo. Thời Pháp thuộc đă từng gọi đây là ngơ Hàng Hương, v́ cách đây bảy tám chục năm, chỗ phố này là nơi sản xuất các loại nhang đen. Đời Lê đây là thôn Cổ Thành, đầu Nguyễn thuộc thôn Cổ Giám (hợp nhất hai thôn Cổ Thành và Hậu Giám), thuộc tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương. Nay thuộc phường Cát Linh (HNM)

Phố Hàng Giấy

Đi từ phố Hàng Than xuôi xuống, từ Hàng Đậu, Phan Đ́nh Phùng, Hàng Khoai rẽ sang, nơi gặp nhau của các con phố đó chính là phố Hàng Giấy. Đoạn phố dài 208 mét này nối với phố Đồng Xuân, chợ Đồng Xuân thuộc quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc, phố này đă có tên là phố Hàng Giấy (Rue de Papier).  


Phố Hàng Giấy - Hà Nội.

Phố này được xây dựng trên nền đất xưa vốn thuộc phường Đồng Xuân, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương. Hiện nay, tại số nhà 83 chính là đ́nh Đồng Xuân thờ Bạch Mă xưa kia.

Phố này xưa kia đă bán các thứ giấy do làng Bưởi, làng Cót làm ra từ đó mà thành tên phố. Trước các ṭa nhà cổ vẫn c̣n những chữ đắp nổi tên các cửa hiệu buôn giấy nổi tiếng trước kia.

Ngày nay phố này không c̣n chuyên bán giấy mà bán nhiều mặt hàng khác nhau nhưng tên "Phố Hàng Giấy" th́ vẫn c̣n trong ḷng những người Hà Nội xa quê, gợi nhớ về một phố nghề Hà Nội (HNM)

Phố Hàng Khoai

Đi từ đường Trần Nhật Duật, nơi bắt đầu của cây cầu Long Biên lịch sử, đến phố Hàng Lược - Hàng Mă phải đi qua một con phố dài 360m, có tên gọi là phố Hàng Khoai. Phố Hàng Khoai có chợ Đồng Xuân - trung tâm buôn bán lớn nổi tiếng của Hà Nội từ xưa đến nay. Phố Hàng Khoai ở gần ngă ba Hàng Rươi - Hàng Chai, cắt ngang phố chợ Đồng Xuân Nguyễn Thiện Thuật và cắt ngang ngă tư Hàng Giấy - Đồng Xuân, thuộc quận Hoàn Kiếm.

 
Phố Hàng Khoai 

Phố này được xây dựng trên nền đất xưa thuộc thôn Huyền Thiên, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương. Ở số nhà 54 vẫn c̣n ngôi chùa cổ có tên là Huyền Thiên, nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Thực ra đây là Đạo quán, nơi tu hành của Đạo sĩ. Tại đây c̣n có tấm bia dựng vào năm 1668. Trần Nguyên Đán (1326 - 1390), ông ngoại của Nguyễn Trăi, đă từng đến đây và có bài thơ đề vịnh di tích này.

Ở đây xưa kia là nơi tập trung bán các loại củ (khoai) của nông dân mấy tổng lân cận, nơi đất băi sông Hồng. Thời Pháp thuộc, phố này có tên là Rue de Tubercules (Phố Các Củ). Tên phố Hàng Khoai được gọi chính thức từ sau năm 1945. Ngày nay, một phần phía nam là phần đất chợ Đồng Xuân. Các mặt hàng ở phố này đều là loại nông thổ sản như khoai lang, khoai tây, hành, tỏi, gừng, nghệ… được chuyển vào phía sau phố là khu chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Tối tối, hàng đoàn xe thồ, ôtô chở rau, củ, quả từ các vùng chuyên canh lân cận đến họp chợ rau đêm trên phố. Từ tờ mờ sáng, chủ các quầy rau, quả ở các chợ trong thành phố lại đến đây mua buôn để về bán cho bà con tiêu dùng. Khoảng 7 - 8 giờ sáng cũng là lúc chợ rau đêm tan, đường phố lại được dọn dẹp sạch sẽ và  bước vào kinh doanh các mặt hàng khác. Gần đây, phố này kinh doanh thêm mặt hàng sành sứ Việt Nam, Trung Quốc, pha lê Tiệp Khắc, Pháp, Việt - Tiệp…(HNM)

Phố Hàng Thiếc

Là tên một phố dài 136m thuộc quận Hoàn Kiếm, nối tiếp với phố Thuốc Bắc, cắt ngang phố Hàng Bồ và Bát Đàn. Cuối phố Hàng Thiếc được nối vuông góc với phố Hàng Nón và phố Hàng Quạt. Phố Hàng Thiếc là một trong 36 phố phường làng nghề của Hà Nội.

 
Phố Hàng Thiếc

Trước đây phố này chuyên làm các mặt hàng đúc, tráng, trám bằng thiếc, như giá nến, lư hương, chóp nón, nên gọi là phố Hàng Thiếc. Thời Pháp thuộc, phố này có tên là Rue des Ferblanciers (phố Thợ Thiếc). Ngày nay, khi tôn, kẽm, sắt tây đă được sử dụng phổ biến th́ phố này chuyên sản xuất các mặt hàng gia dụng từ tôn, nhôm, i-nốc như khuôn làm kem, bánh, b́nh tưới, ḥm xiểng… đến thuyền nhỏ cho dân vùng đất băi sông Hồng.

Nghề làm gương kính cũng chiếm vị trí quan trọng ở đây, nhất là khi nhu cầu làm tủ bày hàng, cửa với vật liệu nhẹ như khung nhôm kính phát triển th́ phố này bận rộn suốt ngày đêm với các công tŕnh lớn nhỏ. Đây là một trong số ít các phố nghề của 36 phố phường Hà Nội c̣n giữ được nghề gia truyền. Khách du lịch trong nước và nước ngoài thường thích đi du lịch ṿng quanh phố nghề Hà Nội bằng xe xích lô.

Phố Hàng Thiếc nằm trên nền đất xưa thuộc thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Ở số nhà 2 phố Hàng Bông c̣n đền thờ ông tổ nghề tráng gương, mặt hàng quen thuộc của phố Hàng Thiếc trước đây(HNM)

Phố Ḷ Sũ

Tên một phố dài 316m đi từ đường Trần Quang Khải, cắt ngang ngă tư Hàng Vôi - Hàng Tre và cắt ngă tư Nguyễn Hữu Huân - Lư Thái Tổ, qua phố Hàng Dầu, đến phố Đinh Tiên Hoàng, thuộc quận Hoàn Kiếm. Thời  Pháp thuộc, phố này có tên phố Puiannơ (Rue Pouyanne). Đa số dân phố Ḷ Sũ là người quê ở các làng Liễu Viên, Phương Dực (huyện Thường Tín, Hà Tây) đến đây lập nghiệp đă khoảng 200 năm.

Trên phố có nhiều hiệu ăn, hiệu bán giầy, dép nhựa. Phố này được xây dựng trên nền đất xưa vốn thuộc các thôn: Sơ Trang, Tả Lâu (tổng Tả Túc) và thôn Nhiễu Thượng (tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương. Gọi là phố Ḷ Sũ v́ ở đây trước kia có nhiều nhà bán hàng sũ tức là cửa hàng đóng và bán áo quan. Do đó, ở số nhà 22 có đền thờ ông tổ nghề mộc. Đ́nh Trang Lâu của dân sở tại th́ ở số nhà 30. Bên phố Nguyễn Hữu Huân cũng có đ́nh Trang Lâu ở nhà số 77. C̣n 32 Ḷ Sũ là đ́nh thờ tổ ḷ rèn của dân Đa Hội quê bên Đông Anh đến đây từ thời Lê(HNM)

Phố Ngơ Gạch

Tên một phố dài 130m nối liền Hàng Giày với phố Nguyễn Văn Siêu đi tới phố Hàng Đường, thuộc quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc bao gồm hai phố: "Nguyễn Siêu" (thực ra là Nguyễn Văn Siêu) và Ngơ Gạch bây giờ. Hai phố được gọi chung là phố Án Sát Siêu, sau lại tách ra gọi phố Ngơ Gạch dịch tên tiếng Pháp là Rue des Briques


Phố Ngơ Gạch.

Trước đây, phố này chuyên bán gạch, ngói và vôi. Hiện nay phố này vẫn giữ nguyên truyền thống bán các mặt hàng đó và có thêm nhiều hàng quán khác phục vụ khách đi chợ Đồng Xuân. Nền phố này xưa vốn thuộc đất thôn Hương Bài, Cổ Lương, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương. Từ khi sông Tô Lịch bị lấp, phố này và phố Nguyễn Siêu mới h́nh thành. Hiện nay ở chỗ nhà ố 10 có một ngôi đ́nh cổ. Đó chính là ngôi đ́nh của thôn Thanh Hà, trước kia ở đầu phố Hàng Chiếu, gần Ô Quan Chưởng. Năm 1817, do cần sửa chữa cửa ô, mở rộng đường sá, nên dân làng Thanh Hà dời đ́nh vào đây. C̣n đ́nh, đền của thôn Cổ Lương th́ nay ở phố "Nguyễn Siêu" (Nguyễn Văn Siêu)(HNM)

Phố Nguyễn Sơn

Tên một phố, lập năm 1999, nằm bên tay phải (đối diện nhà số 403 bên tay trái) đường Ngô Gia Tự, hướng Hà  Nội - Bắc Ninh, đây là phần đất thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Nguyễn Sơn (1908 - 1956) tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm.


Phố Nguyễn Sơn

Ông tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng từ thời học sinh. Ông được Bác Hồ (bấy giờ Bác có tên là Lư Thuỵ) đưa sang học trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) với tên mới là Lư Hồng Thuỷ. Sau đó, ông tham gia Bát Lộ quân của Trung Quốc, dự cuộc "Trường Chinh" 2 vạn 5 ngh́n dặm. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông được về nước và được cử làm Chủ tịch uỷ ban kháng chiến miền Nam, Hiệu trưởng Trường Lục quân, Khu trưởng khu Bốn. Hồ Chủ tịch phong tặng ông quân hàm thiếu tướng. Năm 1950, ông sang Trung Quốc làm cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông dạy Học viện Quân sự cao cấp, sau đó làm Cục phó Cục điều động, Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí "Huấn luyện chiến đấu" của Giải phóng quân Trung Quốc. Ông được Nhà nước, quân đội Trung Quốc phong hàm thiếu tướng. Dân gian gọi là "lưỡng quốc tướng", vị tướng của hai nước gắn với nhiều chuyện về tài đức của ông, người duy nhất được vinh dự ấy.(HNM)

Phố Thanh Hà

Tên một phố dài 150m bắt đầu từ phố Nguyễn Thiện Thuật đến Ô Quan Chưởng, nơi gặp các phố: Hàng Chiếu, Đào Duy Từ, thuộc quận Hoàn Kiếm. Trước 1954, phố có hai tên gọi là ngơ Hàng Nâu và ngơ Thanh Hà. Từ 1964 đổi là phố Thanh Hà. Phố này được xây dựng trên nền đất xưa vốn thuộc thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương. Thôn Thanh Hà có ngôi đ́nh vốn ở vào chỗ gần cửa Ô Quan Chưởng. Tới 1817, do sửa chữa mở mang cửa ô và đường sá nên đ́nh dời vào chỗ này là số 10 Ngơ Gạch, có một mặt quay ra số 77 Hàng Chiếu. Đ́nh thờ một anh hùng thời Trần, có công chống quân Nguyên. C̣n hiện nay ở số 4 phố Thanh Hà có một ngôi đền của thôn, tên là Hội thống, thờ Liễu Hạnh

Phố Yên Bái

Tên một phố đi từ phố Nguyễn Công Trứ đến đường Trần Khát Chân, thuộc quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc, đây là "đường 233" (Voie 233). Ngày nay phố nằm trong Khu "chợ Giời" nên các mặt hàng buôn bán rất đa dạng. Phố này được xây dựng trên nền đất xưa vốn thuộc thôn Yên Bái, tổng Tả Nghiêm huyện Thọ Xương. Tới giữa thế kỷ XIX, thôn Yên Bái hợp với thôn Thống Nhất thành thôn Yên Nhất, lúc này tổng Tả Nghiêm cũng đổi thành tổng Kim Liên. Trên phố có hai phần đất là mặt sau của đ́nh Yên Nhất (nhà 260 phố Huế) và đền Yên Nhất (nhà 225 phố Huế). Phố này có  "ngơ 31" (thời Pháp thuộc gọi là "đường 339")

Phố mang tên Yên Bái, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học tổ chức và Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy vào đêm 9 rạng ngày 10 - 2-1930. Cuộc khởi nghĩa nổ ra chưa được một đêm đă bị dập tắt và các thủ lĩnh của đảng đều bị bắt gần hết nhưng ư chí, tinh thần yêu nước của họ vẫn được ghi nhớ và có giá trị lịch sử nhất định (HNM)

Khu phố cổ cửa sông Hà Nội

Một khu phố cổ ở cửa sông có danh tiếng của Hà Nội là phố Hàng Chiếu, Hàng Buồm, Hàng Khoai, Nguyễn Siêu…nối cửa Ô Quan Chưởng với Đồng Xuân. Thời xưa, đây vốn là đất thôn cổ Thanh Hà thuộc tổng Hậu Túc của huyện Thọ Xương, huyện lớn, phía bắc gồm cả Tây Hồ có "Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương…".

Trên ṿm cửa chính cửa Ô Quan Chưởng nay vẫn c̣n thấy khắc ba chữ: "Đông Hà Môn" nghĩa là cửa Đông Hà. Yếu tố "hà" trong địa danh Thanh Hà, Đông Hà, Hà Khẩu…mới xuất hiện từ nửa thế kỉ 18. "Hà" ở đây chỉ sông Hồng, c̣n có tên gọi là sông Cái, đến đầu thế kỉ 19, Thăng Long đổi thành Hà Nội, thành phố nằm bên trong con sông.

C̣n trước thế kỉ 18, Hà Khẩu có tên là Giang Khẩu. Người ta đổi Giang thành Hà v́ kị huư chúa Trịnh Giang (1729-1740). Lúc bấy giờ Giang Khẩu đă là một trong 36 phường của Thăng Long. Từ thời Lư (1009-1225) đến thời Trần (1225-1400) đă phát triển tới hơn 60 phường. Những phường này chưa tách khỏi nông nghiệp và chủ yếu sản xuất hàng thủ công. Sau phường gắn với thương mại, buôn bán, dịch vụ hoặc sản xuất nhằm phục vụ buôn bán tại chỗ. Sở dĩ tên phường Đông Hà đổi thành phường Hàng Chiếu v́ giữa thế kỉ 19, ở đây có bán chiếu và bát. Chiếu từ các làng ven biển, bát từ Bát Tràng, An Quảng (Móng Cái) đưa về Thăng Long – Hà Nội qua cửa sông vào Đông Hà. Ô Quan Chưởng là đầu mối giao thông giữa phố Hàng Chiếu nói riêng, Hà Nội nói chung với các tàu thuyền ra vào thành phố qua cửa Giang Khẩu - Hà Khẩu. Chính sự buôn bán sầm uất này mà đẻ ra phố Hàng Buồm vốn là nơi chuyên sản xuất buồm bằng vải hoặc cói và vá chữa buồm rách của các thuyền buồm.

Thời kỳ đầu toàn quốc kháng chiến, (1946-1947), nhà 45 Hàng Chiếu là trụ sở, c̣n trong các phố phường hướng ra sông Hồng là nới các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô cảm tử lấy quân. Ngày mồng một Tết Đinh Hợi (22-1-1947), Trung đoàn Thủ đô đă tổ chức bữa liên hoan tạm biệt Thủ đô, vượt qua sông Hồng để mở đường lên vùng rừng núi kháng chiến (1946-1954). Sau 9 năm kháng chiến, cũng từ cửa ô này, nhiều đơn vị bộ đội đă trở về giải phóng Thủ đô, trong đó có các chiến sĩ cảm tử quân Hà Nội.

Giờ đây, các phố phường cổ nay vẫn được lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hoá trong quá tŕnh đô thị hoá lớn những năm cuối thế kỷ 20, trên cơ sở bảo vệ những nét đẹp của văn hoá dân tộc để chuyển giao sang thế kỷ 21.(TBDL)

QUĂNG TRƯỜNG BA Đ̀NH

 

Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam, Quảng trường Ba Đ́nh là trái tim của Hà Nội. Tại đây đă diễn ra những sự kiện trọng đại của Thủ đô và cả nớc. Nguyên nơi đây vốn là khu vực cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân Pháp phá thành làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tṛn Pugininer. Năm1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đ́nh. Chữ Ba Đ́nh là để gợi nhớ dải đất Ba Đ́nh ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đă nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 - 1886 đến tháng 1 - 1887.

Quảng trường cũng là nơi chứng kiến hàng chục vạn đồng bào về dự lễ Độc lập ngày 2 - 9 - 1945. Ngày 9-9-1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, cũng tại Quảng trường này, lễ truy điệu Người đă được cử hành trọng thể. Hàng vạn đồng bào Thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đă tới đây dự lễ.

Ngày nay mặt chính của Quảng trường là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lăng là khoảng không gian rộng lớn với 320 mét chiều dài và 100 mét chiều rộng, đủ chỗ cho 20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Chính giữa là cột cờ cao 30 mét. Quảng trường Ba Đ́nh đă trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội.
(theo trang thủ đô)