Yêu một Bắc Ninh

   


NGƯỜI Ở ĐỪNG VỀ

Từ năm 1961 đến nay, chúng ta thường được nghe trên các sân khấu ca nhạc người ta giới thiệu bài "Người ở đừng về" là dân ca quan họ Bắc Ninh. Nghệ sĩ nhân dân Thanh Huyền khi biểu diễn ở nước ngoài hát bài này cũng được giới thiệu là Dân ca Quan họ. Ngay cả trên vô tuyến truyền h́nh, thậm chí Đoàn dân ca Quan họ thường đi biểu diễn đó đây cũng hát và giới thiệu tương tự. Và chúng tôi, cả chúng ta nữa, bấy lâu nay vẫn nghĩ cách giới thiệu như trên là đúng. Bài Người ở đừng về chẳng là dân ca Quan họ th́ Dân ca nào?

Ấy thế mà chưa đúng. Câu chuyện là thế này: Trong Quan họ có bài Chuông vàng gác cửa Tam Quan, lời của bài hát được mở đầu như sau:

"Chuông vàng gác cửa tam quan,
Đêm nằm tưởng đến người ngoan tôi phiền.
Người ơi người ở đừng về..."

Th́ Nhạc sĩ Xuân Tứ lấy câu Người ơi Người ở đừng về từ giữa bài hát nhấc lên làm đầu câu hát, sắp xếp lại, đưa âm nhạc vút lên cao (người ới người ở đừng về) rồi đặt tên là bài "Người ở đừng về" mà lâu nay chúng ta vẫn tưởng là một bài Quan họ có tên nghiêm chỉnh. Thực ra trong Quan họ làm ǵ có bài Người ở đừng về mà chỉ có: Chuông vàng gác cửa tam quan.

Thế mới biết, trong qua tŕnh giữ ǵn và phát triển Dân ca Quan họ, các thế hệ con cháu cứ chỉnh lư cải biên (điều tất yếu) nếu như không nói cho ngọn ngành th́ đời con cháu mai sau căi nhau chẳng thích. Các nhà nghiên cứu sẽ tốn bao nhiêu giấy mực tranh luận những vấn đề tương tự như thế này?

Đức Miêng

 
 
 

 

Gửi về quan họ

   


HAI TỪ QUAN HỌ

Tuy không phải là những nhà nghiên cứu nhưng nhiều người gần xa khi gặp chúng tôi thường đặt câu hỏi: Quan họ là ǵ? V́ sao lại gọi là Quan họ? Định nghĩa?

Để bạn đọc tham khảo, chúng tôi xin phép được trao đổi xung quanh hai từ này như sau:

- Ở các làng quan họ cổ thường cho rằng Quan họ là tiếng hát "Giữa hai họ nhà quan kết bạn với nhau". Cách giải thích này chủ yếu dực vào trí nhớ và truyền miệng qua các thế hệ hát quan họ của làng ḿnh.

- Một số làng quan họ khác lại cho rằng Quan họ là tiếng hát của "Quan viên hai họ - gọi tắt là quan họ".

- Có nơi c̣n kể: Một cô gái cắt cỏ trên núi Chè (huyện Tiên Du) hát rằng: Tay cầm bán nguyệt xênh xang - bao nhiêu thước cỏ hai làng tay ta. Thấy cô gái cắt cỏ đẹp, lại hát hay, chúa Trịnh Sâm đi du xuân qua đó phải họ (dừng) ngựa lại mà nghe. Dân trong vùng truyền tụng cho rằng tiếng hát hay đến nỗi Quan phải Họ lại nên gọi là Quan họ.

- Có nhà nghiên cứu giải thích theo cách lập luận khác và cho rằng: Quan họ là tiếng hát của Quan viên họ nhà Lư ( Lư Công Uẩn) hát mừng vua khi vua về thăm quê hương .v.v...

Tóm lại: Có nhiều sự giải thích, có nhiều truyền thuyết về hai từ Quan họ, nhưng chưa có cách giải thích nào đủ tính thuyết phục, thoả đáng, được nhiều người công nhận.

Măi gần đây (2001) có một lời giải thích được dân vùng quan họ lưu truyền, đặc biệt được giới chuyên môn đánh giá cao. đó là lời giải thích của tiến sĩ sử học Trần Đ́nh Luyện- Giám đốc Sở văn hóa thông tin Bắc Ninh - Ông đưa ra: "Bấy nay ta không để ư đấy thôi, cứ đi t́m truyền thuyết, giả thuyết nọ kia mà quên rằng Người quan họ đă giải thích (bằng ca hát ) rồi về hai từ Quan họ . Ấy là: Nói cái nỗi mà ta yêu nhau, yêu nhau chẳng lấy được nhau....và đấy chính là Quan họ. Tôi thấy có người c̣n nói Quan họ Bắc Ninh có từ đời Lê, đời Lư ǵ đó - thực ra cũng thiếu căn cứ. Tôi th́ cho rằng có từ khi có cái tên tỉnh Bắc Ninh (1831). Chứ đời Lư mới cách đây gần 1000 năm th́ lúc ấy làm ǵ có chữ Bắc Ninh mà gọi là Quan họ Bắc Ninh?.

Câu định nghĩa xanh rờn nhưng đúng mức, ở chỗ suy cho cùng là Quan họ yêu nhau chẳng bao giờ lấy, lây th́ hết, c̣n ǵ để nói, và đấy mới là Quan họ. Cách khám phá định nghĩa của Tiến sĩ Trần Đ́nh Luyện là cách cảm của người nghe Quan họ hát nhiều, rồi gạn chắt từ mấy trăm làn điệu Quan họ ra.... mà có.

Tôi là người mày ṃ măi về hai từ này. Nhưng khi nghe giải thích quan họ là ǵ - là: nói cái nỗi mà ta yêu nhau - Yêu nhau chẳng lấy được nhau.... th́ lấy làm tâm đắc.

Đức Miêng

 
 
 

 

 

   


T̀NH BẠN

Trong giao tiếp xă hội, ai cũng có bạn, dù thân dù sơ, thực ra đây là mối quan hệ b́nh thường - Bạn đánh bi, đánh đáo, bạn học, bạn văn, bạn thơ, bạn rượu, bạn làm ăn v.v..và v.v... các kiểu t́nh bạn mà chúng ta thường gặp. Duy nhất bạn Quan họ đáng để người đời suy ngẫm.

Trước hết khái niệm t́nh bạn trong quan họ được thể hiện qua những bài ca - là thứ bạn.... t́nh. T́nh ở đây là t́nh người hứ không phải là thứ t́nh.... dẫn đến hôn nhân; v́ "Quan họ có bao giờ được lấy nhau đâu" như nhiều người đă biết. Nhưng để thể hiện sự tôn vinh trân trọng bạn, mà người quan họ tự hào hát rằng: Bạn t́nh ơi; duyên t́nh ơi; má hồng ơi; đôi người ơi; lúng liếng ơi; quan họ ơi....v.v... chứ ai nỡ hát: Bạn ơi!

Như vậy (Theo sự biểu cảm của người quan họ) bạn và t́nh được  coi là một: " Bạn không thấy bạn - T́nh không thấy t́nh" như câu ca của người quan họ.

T́nh bạn được thể hiện trong ca hát là như vậy. C̣n đời thường đối xử với nhau như thế nào? nhà nghiên cứu văn hoá Trần Linh Quư cho rằng: T́nh bạn quan họ được hiểu là thứ t́nh không phải là một đời mà truyền đời.

Từ quan niệm về t́nh bạn quan họ của ông đă đưa cho ta thấy đó cũng chính là ư tưởng mà người quan họ định ra để xây dựng, xây đắp, thực hiện ư tưởng cao đẹp của ḿnh qua nhiều đời ở vùng quê quan họ. Lấy ví dụ như Quan họ làng Diềm kết bạn với Quan họ làng Bịu từ xa xưa, trải qua bao biến cố của lịch sử, qua bao thăng trầm, đến nay Quan họ đôi bên vẫn coi nhau như anh em một nhà. Các nghệ nhân cao tuổi ở làng Diềm giờ đây c̣n kể: Ở dưới đó (Bịu) có công việc ǵ chúng tôi vẫn xuống; cưới xin, ma chay, hoạn nạn, vui vẻ, bất kể việc ǵ; đă coi như anh em th́ có nghĩa vụ như con cháu trong nhà. Trước đời chúng tôi đến các cháu bây giờ cũng thế, Quan họ hai làng quư mến nhau c̣n hơn cả anh em ruột thịt. Chỉ là bạn thôi mà húng tôi cư xử với nhau như thế đó.

Ngày nay, trong các gia đ́nh, Người lớn thường can lớp trẻ em: Nên chọn bạn mà chơi, phải chăng người lớn mong muốn quan hệ con người với con người được xác lập là t́nh bạn và trở thành giá trị đạo đức, nét đẹp văn hoá không thể thiếu ở mỗi con người hôm nay.

Đức Miêng

 
 
 

 

   


ĐI T̀M BÈO DẠT MÂY TRÔI

Những năm gần đây, trong một số đĩa CD, băng Karaoke, băng từ tính có bài Bèo dạt mây trôi được giới thiệu là dân ca Nghệ Tĩnh. Việc này chẳng sao và không cần thiêt đến chúng tôi phải bàn. Nhưng cũng có băng, cũng có những khán giả yêu thích.... giới thiệu hoặc đang hiểu Bèo dạt mây trôi là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, v́ lẽ đó mới đến lượt (đồng thời cũng là trách nhiệm) chúng tôi đi t́m Bèo dạt mây trôi.

Trước hết, chúng tôi thấy từ những năm 1970 trở lại đây không có làng quan họ nào hát bài này. Nhạc sĩ quá cố Hồng Thao đă ghi âm174 làn điệu mà không hề có làn điệu Bèo dạt mây trôi .Và ông đă từng cho biết thêm: Nhạc sĩ Nguyễn Chính công tác tại Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam năm 1968. Người thu thanh đầu tiên bài dân ca này là nghệ sĩ Thương Huyền và được đài giới thiệu là Dân ca Quan họ. Hỏi nhạc sĩ Nguyễn Chính sưu tầm ở đâu ra Bèo dạt mây trôi th́ được trả lời " ...cũng không nhớ...".v...

Từ năm 1992 đến nay, Đài Tiếng nói Việt Nam lại giới thiệu "Bèo dạt mây trôi" là dân ca Nghệ Tĩnh. Đúng hay sai chúng tôi không bàn. Chỉ biết căn cứ vào tính chất và đặc điểm âm nhạc vùng Thanh Nghệ Tĩnh, đồng thời căn cứ vào ngữ phương vùng Thanh Nghệ, chúng tôi cho rằng Bèo dạt mây trôi chưa phải là dân ca Nghệ Tĩnh. Thậm chí quư Đài của chúng ta (cả nhiều người vẫn tưởng) bấy lâu nay giới thiệu Giận mà thương là dân ca Nghệ Tĩnh cũng là sai. Chúng tôi và nhiều nhà nghiên cứu đă biết bài ca đó có tác giả là Nguyễn Trung Phong sáng tác hẳn hoi. Ông viết Giận mà thương nằm trong vở kịch do ông sáng tác nhạc có tựa đề Mẹ vắng nhà. Bao nhiêu năm rồi, nhiều người (kể cả người Nghệ Tĩnh) cũng cứ tưởng đây là bài Dân ca Nghệ Tĩnh.

Ṿng vo một chút để trở lại việc đi t́m Bèo dạt mây trôi. Thiết nghĩ việc lầm lẫn trong việc giới thiệu là khó tránh khỏi, mặc dù đó là điều đáng tiếc. Với chúng tôi, việc đi t́m Bèo dạt mây trôi vẫn chưa tới đích, gốc nguồn chẳng thấy đâu. Kết thúc bài viết rồi mà Bèo vẫn dạt, mây vẫn trôi... lững lờ trôi...

Đức Miêng

 
 
 

 

 

   


TRẦU TÊM CÁNH PHƯỢNG

Xa xưa, quan họ đă tiếp khách, đi mời khách, hoặc đi chơi hội, thậm chí sang nhà nhau "thăm thầy, thăm mẹ - sau nữa là thăm anh Hai, chị Hai "thường là có cơi trầu là đầu câu chuyện".

Thưa gửi trong câu chuyện thường ngày, cũng lấy miếng trầu làm cớ. Chẳng hạn:

"Trầu này trầu tính, trầu t́nh,
Trầu loan, trầu phượng trầu ḿnh trầu ta.
Trầu này têm tối hôm qua,
Hôm nay tiếp bạn mang ra mời người...".

Ca dao Việt Nam th́ thấm thía, sâu xa:

Ăn trầu cho miệng đỏ môi,
Uống rượu cho chén tươi đôi má hồng.

Trong Dân ca Quan họ có cả một bài ca nói về miềng trầu têm cánh phượng mà gửi theo những tâm trạng: "Th́ tay em nâng cái cơi trầu. Mắt em nh́n em liếc em trông... Trầu têm cánh phượng dâng lên mời người. Ai ơi có thấu chăng là đến chúng em chăng..."

Hoàn thành một miếng trầu không khó, quan trọng là biết chọn lá, chọn vỏ, chon cau và đặc biệt phải khéo tay. Cũng th́ miếng trầu, người này têm đẹp, người kia têm thô cũng là chuyện dễ hiểu. Têm để có, chắc nhiều người têm đuợc. Têm mời khách mà khách ăn trầu c̣n nhớ măi, nhớ cả "cái tính, cái t́nh" trong miếng trầu... mới là khó. Ăn trầu không hẳn để cho "Miệng đỏ môi"; uống chén rượu là uống cái T́nh, thế mới xa xôi rằng: uống rượu cho chén tươi đôi má hồng là v́ vậy. Cái chén làm ǵ có má hồng. Má hồng chỉ ở khuôn mặt thiếu nữ, nhất là thiếu nữ Quan họ khi tiếp bạn th́ má đă hồng - càng hồng thêm...

Ca dao c̣n nói:

Yêu nhau cau sáu bổ ba,
Không yêu cau sáu bổ ra làm mười

Nhưng ca dao cũng nhắc:

Mời nhau một miếng cau khô,
Người khôn thích mỏng, kẻ thô tham dày.

Làm được miếng trầu đă khó. được mời trầu c̣n khó hơn. Vượt lên tất cả cái t́nh, cái nghĩa; là lời nói câu mời sao cho khéo, cho đẹp th́ nếu ta có được người Quan họ mời ăn trầu cánh phượng.... chắc cũng dễ ăn.

Đức Miêng

 
 
 

 

 

   


HỘI LÀNG

Qua sử sách, đến nay các nhà nghiên cứu đă thống nhất một nhận định là: Chưa miền quê nào nhiều hội làng như ở Bắc Ninh. Về thời gian th́ kể từ ngày 4 - 5 tháng giêng cho đến đầu tháng tư âm lịch, nơi nơi mở hội, đặc biệt là làng Đ́nh Bảng ngày xưa, mỗi năm có tới 80 ngày hội.

Hội đă mở th́ rất nhiều tṛ chơi, như chọi gà, đu quay, cờ người, thả chim câu... nhưng không hề thiếu hát Quan họ (việc này hiện giờ nhiều làng vẫn cố gắng duy tŕ). Trong các làng Quan họ, ngoài việc tổ chức ca hát, ngwoif ta làm cỗ rất to để thiết đăi bạn bè. Nhiều làng c̣n quan niệm: Tết Nguyên đán cỗ không to bằng cỗ hội làng.

Mỗi làng tổ chức Hội có những đặc điểm riêng. Thí dụ hội Chen (chen nhau) ở Nga Hoàng - Vơ Quế. Có nghĩa là người đi trẩy hội thoả sức chen nhau, dẫu ngă xuống ao, dẫu rơi xuống giếng, vẫn vui, không ai trách ai, mà c̣n cho đó là may mắn đầu xuân năm mới. Thế rồi, đến nửa đêm (12 giờ)chẳng hiểu sao đèn nến trong đền vụt tắt, lúc đó người ta mặc sức Chen nhau. Nghệ sĩ Xuân Mùi ở đoàn Dân ca Quan họ c̣n kể rằng: "Chen nhau lúc nửa đêm mới là lúc quan trọng nhât của ngày hội. Dẫu mai này có cô gái nào chót dại mang thai th́ dân làng khen chứ không hề bắt vạ.....".

C̣n như hội làng Ó xa xưa cũng có nhiều nét riêng. Cỗ to đến mấy cũng không thể thiếu món rau cần xào với bún. Áp hội, người ta chuẩn bị gà chân đen ra đ́nh làm lễ. Chợ hôm áp phiên cũng rất đặc biệt: người bán không nói giá, người mua không mặc cả, bao nhiêu tuỳ ư, và đôi bên đều lấy đó làm niềm vui.

Có thể nói Hội làng vùng Kinh Bắc xưa đặc biệt gắn bó với ca hát Quan họ. Tiếng hát Quan họ trong các dịp hội làng ai cũng nghĩ: đó là tiếng hát cầu phúc, cầu may, cầu tài, cầu lộc. Thậm chí người ta c̣n quan niệm tiếng hát ấy là chiếc cầu nối với trời đất, giữa thần phật để thỉnh cầu mưa, nắng...

Đức Miêng

 
 
 

 

 

 

   


EM LÀ CON GÁI BẮC NINH

Như nhiều người cũng đă biết: Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong quá tŕnh phát triển chịu ảnh hưởng của nhiều luồng âm nhạc từ nơi khác du nhập. Đây cũng là điều tất yếu ở các thể loại dân ca. Suốt quá tŕnh ấy, nhiều luồng âm nhạc ngoài Quan họ nhập gia đă được Quan họ hoá như: giọng Đào nương, giọng Lư, giọng Huế, giọng Hồ Quảng, giọng Tả Lư, giọng Tuồng, giọng Ca trù, giọng Chầu văn, giọng Chèo.v.v....

Như đă nói, sở dĩ nhiều luồng từ nơi khác được Quan họ hoá bởi v́ âm điệu của chúng ít nhiều đồng điệu với tính chất âm nhạc của Quan họ. Thí dụ bài C̣ lả (dân ca đồng bằng Bắc Bộ) được quan họ hoá thành giai điệu bài Chia rẽ đôi nơi (dân ca Quan họ). Bài Lư hành Vân (Dân ca Nam Trung Bộ) được quan họ hoá thành giai điệu bài Trăm khúc sông đổ dồn một bến. Hoặc như bài Lư tiểu khúc (Dân ca Trị Thiên) cũng được Quan họ hoá thành bài Xe chỉ luồn kim....

Và nếu cứ nhặt ra những bài quan họ chịu ảnh hưởng âm điệu của những miền quê khác chắc sẽ c̣n nhiều. Tuy nhiên, âm điệu chính luồng của Quan họ được coi là số nhiều, là cơ bản, th́ trong bài viết ngắn như thế này chúng tôi không có điều kiện giới thiệu. Xin phép giới thiệu một bài ca tiêu biểu trong hàng loạt bài ca tiêu biểu. Đó là bài: "Em là con gái Bắc Ninh". Một bài ca hội tụ đầy yếu tố âm nhạc trong dân ca Quan họ.

"... Đôi tay nâng lấy cơi trầu,
Trước mời quư khách, sau hàu đôi bên.
Em là con gái Bắc Ninh
Kẻ tấn người tần,
Gửi lên tỉnh Bắccho gần yến oanh...".

Nói là "Tiêu biểu trong hàng loạt bài ca" ở đây ư chúng tôi muốn ví toàn bộ giai điệu âm nhạc trong bài "Em là con gái Bắc Ninh" là "Giường cột chủ yếu" cho nhiều bài ca (phân câu, đoạn, cách sáng tạo giai điệu, tính chất âm nhạc...) hay nói một cách khác: Em là con gái Bắc Ninh là bài ca có phân giai điệu tiêu biểu nhất đại diện cho âm nhạc Quan họ.

V́ vậy, bài ca ấy được nhiều người đặc biệt yêu thích. Có lẽ v́ thế chăng khi tiếp các Đoàn nghiên cứu âm nhạc trên thế giới đến thăm Quan họ, các "liền chị" Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh không thể không giới thiệu với khách: "Em là con gái Bắc Ninh".

Đức Miêng

 
 
 

 

   


GIĂ BẠN

Theo tài liệu của cố nhạc sĩ Hồng Thao (tính thời điểm năm 1988), Dân ca quan họ có 174 làn điệu (âm điệu cơ bản). T́m trong số này chúng tôi lọc ra 23 làn điệu thuộc giọng Giă bạn.

Giă bạn (Chia tay từ giă bạn bè) bao gồm tất cả những bài nói về sự xao xuyến, lưu luyến lúc chia tay của người Quan họ sau những canh hát dài bịn rịn t́nh trong ư ngoài, sau những cuộc vui "tàn đêm rạng ngày" không nỡ rời nhau:

Người về em vẫn trông theo
Trông nước - nước chảy - trông bèo - bèo trôi
Người về em dặn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai

Hoặc như:

Vầng ô bóng đă xế tà,
Bởi chưng dan díu hoá ra thế này.
Đang vui chúng em trở ra về,
Quan họ có nhớ đến chúng em chăng?

Các cuộc chia tay bao giờ cũng lưu luyến, không ngẹn ngào mà "ngọt ngào đầu lưỡi mặn mà bên tai" như câu hát của Quan họ. Biết rằng sự chia tay chỉ là tạm thời, có thể ngày mai, ngày kia gặp lại, ấy vậy mà lời hát như man mác ấm se nỗi buồn:

Người về để nhện giăng mùng,
Năm canh luống chịu lạnh lùng cả năm.
Người về nhớ chúng em chăng,
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này...

Ta có thể thấy qua câu hát trên mà đọc được nỗi buồn của người Quan họ khi xa bạn. Rằng: gian buồng hẹp có cô gái Quan họ đang chịu sự lạnh lùng suốt năm canh mà như cả mộ năm giăng mắc sầu đong, khiến nhện phải vương tơ như mắc màn cho người ngủ.

Bài ca: Để nhện giăng mùng mới chỉ là một trong số hai mươi ba nỗi ḷng mà người Quan họ thường thể hiện lúc chia tay, sau chia tay. Những nỗi ḷng ấy là những bài ca mà chúng tôi cho là những bài ca hay nhất trong một canh hát Quan họ như: Trống rồng, Chia rẽ đôi nơi, Chuông vàng gác cửa tam quan, Rẽ phương chia loan, Đến hẹn lại lên...

Đức Miêng

 
 
 

 

 

 

   


NGỒI TỰA MẠN THUYỀN

Đây là bài ca rất phổ thông của quan họ. Phổ thông đến cái mức ngay cả lời giới thiệu của bài ca này, nhiều người cũng biết. Thí dụ khi các liền anh hát:

- Ngồi tựa song đào
Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương
Gió lạnh đông trường,
Nửa chăn nửa chiếu nửa giường đợi ai....

Th́ các liền chị hát đáp lại rằng:

- Ngồi tựa mạn thuyền,
Giăng in mặt nước càng nh́n càng xinh.
Sơn thuỷ hữu t́nh,
Thơ ngâm ngoài lái rượu b́nh trong khoang...

Với lời dẫn trên đây tự thân đă nói tới việc Ngồi tựa song đàoNgồi tựa mạn thuyền là hai bài ca người quan họ thường dùng khi hát đối - đáp. Ngồi tựa nơi mạn thuyền uống rượu ngắm trăng tương ứng với việc ngồi tựa song đào (cửa sổ bên pḥng ở của người con gái) ướm hỏi bạn tri kỷ ra vào có thấy vấn vương. Hai không gian khác nhau cùng chung một ư tưởng: một bên là ngồi thuyền bồng bềnh giữa đêm trăng - một bên là ngồi của sổ hứng làn gió lạnh đêm đông - chung nhau cái nỗi niềm nhung nhớ, chờ đợi bạn t́nh quan họ...

Bài ca như một câu chuyện kể, nên người nghe dễ cảm nhận, dễ nhớ, dễ thuộc. Cái hay của Ngồi tựa mạn thuyền ngoài tính âm nhạc c̣n là phần âm nhạc lúc kết thúc. Chẳng thế mà Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tư khi viết: Một khúc tâm t́nh của người Hà Tĩnh đă bộc bạch rằng: "Tôi bắt chước phần kết của bài Ngồi tựa mạn thuyền ở chỗ: đưa âm nhạc mở ra thật bay bổng. Làm trai nơi chốn cầu Hà - âm nhạc như bay vọng lên, như khát khao. Bài Hà Tĩnh của tôi th́... có công ta vun trồng th́ mầu đất lại nên tươi...."

Nghệ sĩ ưu tú Thuư Cải c̣n cho biết khi tŕnh bày bài hát này tại Nhật Bản, th́ Ban tổ chức c̣n bắc cả một cái sân khấu to như một con thuyền để Thuư Cải đứng giữa hát - dùng điện la de chiếu cảnh khiến sân khấu bồng bềnh như con thuyền.

Tôi nhớ lại những năm tháng chiến tranh chống Mỹ - hai nghệ sĩ Mỹ là Giên-phon-đa và Hô-ly-nia khi đến thăm quan họ - đă hát song ca bài hát này một cách say sưa. Đứng trong căn nhà nơi sơ tán, với cái giọng lơ lớ - thế mà hai chị với dáng điệu đu đưa - y như là đứng trên thuyền, hát Ngồi tựa mạn thuyền..., như ai....

Đức Miêng

 
 
 

 

   


KHĂN VUÔNG MỎ QUẠ

Trang phục nữ Quan họ đương nhiên là phải kể đến áo năm thân, may bằng the, lụa, yếm cổ viền, bao thắt lưng xanh, váy sồi rủ h́nh lưỡi trai, chân đi dép cong.... tưởng như thế cũng là đủ, vậy mà c̣n một chi tiết nhỏ, nhưng rất quan trọng đến mức không thể thiếu, đó là "khăn vuông mỏ quạ".

Khăn vuông mỏ quạ không hẳn ai biết hát quan họ cũng biết chít; mà dẫu có biết chít cũng chưa chắc đă đẹp. Trong thực tế nhiều liền chị Quan họ mặc trang phục Quan họ rất đẹp, nhưng khăn chưa biết chít nên ít nhiều làm giảm vẻ đẹp thanh nhă, đoan trang của chính ḿnh. Có người đă nói: Khăn mỏ quạ phải chít sao cho vừa, hợp với khuôn mặt, tạo cho khuôn mặt (khi chít khăn) như h́nh chiếc búp sen. Nếu chít cái Mỏ quá cao, trông nó điêu, nếu để cái Mỏ thấp quá, khuôn mặt trở lên đần, tối tăm....

Muốn chít khăn Mỏ quạ cho đẹp, trước tiên phải "biết quấn tóc trong một khăn vấn tóc, ṿng tṛn lại và đặt ngay ngắn lên đầu, hơi xệ và h́nh bầu dục về phía gáy, ghim lại". Nhưng quan trọng hơn là khăn vuông đem gấp sao cho khéo và cân đối (gấp chéo thành h́nh tam giác) bẻ h́nh mỏ quạ sao cho chính giữa đường ngôi trên đầu, bắt hai góc khăn về hai phía tai rồi thắt múi ở gáy.

Thực ra khăn vuông mỏ quạ không đơn thuần chỉ là công cụ trang phục trên đầu người thiếu nữ, mà hẳn là công việc nghệ thuật làm đẹp cần có ở người con gái Quan họ. Cũng v́ thế chăng, khuôn mặt búp sen của người thiếu nữ Quan họ trong ngày hội muôn đời và muôn đời... làm ngơ ngẩn các liền anh.

Chợt nhớ:.... Có ai đó đă từng thốt lên:

Nh́n em khăn vuông mỏ quạ,
Để anh trong dạ tơ vương.
Nh́n em khăn vuông mỏ quạ,
Để anh hoá đá v́ người....

Đức Miêng

 

<= Back