Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế

Hàng năm, cứ vào tháng giêng âm lịch, các làng Ngọc Cục (Việt Ngọc), kép Thượng (Lam Cốt), Phúc Lễ (Phúc Ḥa), Làng Lư (Ngọc Lư)... thuộc miền hạ Yên Thế, nay là huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, mở hội cướp cầu mừng xuân. H́nh thức tổ chức tùy theo làng lớn, làng nhỏ mà cách làm khác nhau. Làng nhỏ chia làm 2 giáp, làng vừa th́ 4 giáp, theo lượng người mà phân chia. Những trai đinh dự thi thường là người cường tráng, nhanh nhẹn. H́nh thức trang phục tùy thuộc sự quy định của từng làng. Có làng người dự thi cởi trần, đóng khố lụa đủ màu sắc xanh đỏ sặc sỡ, tay cầm một chiếc móc có cán dài. Có làng lại để cho trai đinh mặc quần áo, chít khăn màu trên đầu, ngang lưng thắt bao lụa các màu rực rỡ, tay không dùng để cướp cầu.

Địa điểm làm nơi cướp cầu có khi là sân đ́nh là băi rộng cửa đ́nh, hay băi rộng bên đ́nh. Vào giờ lễ hội cướp cầu, trai đinh các giáp vạm vỡ trong trang phục nhiều màu sắc rực rơ, chắc khỏe, đứng tề chỉnh, trang nghiêm trước sân đ́nh với khí thế hừng hực, quyết thắng.

Ông cai đám mặc áo dài quần chùng tề chỉnh, đầu đội khăn điều uy nghi dơng dạc chúc tụng gieo cầu:

"Dân làng ai mở hội cướp cầu
Chúc cho tốt lúa sai cau
Chúc cho trai gái lấy nhau thuận ḥa
Chúc cho tốt bông tốt hoa
Chúc cho làng xóm trẻ già b́nh yên"

Vừa dứt xong các trai các giáp dạ ran, ông gieo cầu xuống. Quả cầu được sơn son thiếp vàng, màu sắc rực rỡ, hấp dẫn. Trai các giáp xô nhau cướp, ngăn chặn, luồn lách tranh cướp lấy cầu đỏ ôm được vào ḷng. Đây là cả một sự vật lộn, tranh giành, đua chen khá quyết liệt, đ̣i hỏi không chỉ có lực, mà c̣n phải có trí, có mưu, dũng mănh mới mong giành phần thắng. Trong khi đó, chiêng trống của làng giục giă liên hồi, rộn ràng, sôi nổi, dân làng của các giáp đứng quanh đông đảo ṿng trong, ṿng ngoài. Trẻ em c̣n leo lên cả các cây cao quanh đó xem. Người người già trẻ gái trai cổ vũ, ḥ reo khích lệ trai đinh giáp ḿnh, làng ḿnh phải giành giật cướp cho được cầu, phải giữ cầu cho chặt.

Các đám tiếp tục khích lệ, cổ vũ, xướng xuất: "Bớ giáp Đông... Bớ giáp Đoài... Tất cả sức trai - Giờ cướp cầu đă đến - Hai bên cùng phải tiến - Khi quả cầu lăn - Chớ có lui chân - Phải giành phần thắng". Cứ sau mỗi câu là trai tráng, dân làng ḥa theo reo ḥ rộn ră, tưng bừng, sục sôi. Được cổ vũ như tiếp thêm sức mạnh, trai đinh các giáp càng dũng mănh xô nhau tranh cướp hết sức gay go, quyết liệt. Giáp nào cũng quyết thắng khiến hội cướp cầu càng thêm hấp dẫn. Cuối cùng, trai đinh giáp nào cướp được cầu, ôm lấy, chạy vào đặt được trong cung đ́nh là thắng cuộc. Cuối cùng, quả cầu được đặt đúng vị trí tôn nghiêm. Cả giáp, cả làng, cả hội đều vui sướng. Chiêng trống rền vang dồn dập, liên hồi, người người già trẻ gái trai reo ḥ vang cầu trường. Giáp thắng cuộc được làng thưởng và mừng v́ năm ấy cả làng, cả giáp gặp may, b́nh an, làm ăn phát đạt, giàu sang, thịnh vượng...

 

Suối Mỡ khu du lịch đầy hứa hẹn

Khu du lịch suối Mỡ nằm trên xă Nghĩa Phượng, huyện Lục Nam, cách thị xă Bắc Giang 30km về phía đông bắc, là một thắng cảnh nổi tiếng của Bắc Giang. Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ 16 có công chúa Quế Mị Nương được nhiều vương tôn, công tử đến cầu hôn nhưng nàng chỉ đam mê du ngoạn. Khi đến vùng Suối Mỡ ngày nay, thấy đất đai khô nẻ, dân t́nh đói rách v́ hạn hán, công chúa rất đau ḷng. Nàng cùng đoàn tùy tùng lên núi Huyền Đinh và vào ngày đầu xuân, một cơn gió mạnh đă cuốn nàng bay bổng lên trời, đưa nàng tới khúc Suối Mỡ. Khi đặt chân xuống đây, nàng đă dùng 5 đầu ngón chân ấn xuống đá và lạ thay, một ḍng nước mát ào ạt chảy ra thành suối (Suối Mỡ ngày nay), đưa nước tưới cho đồng ruộng. Từ đó đất đai vùng này trở nên màu mỡ, đời sống muôn dân trở nên trù phú.

Để ghi nhớ công ơn của công chúa Quế Mị Nương, dân làng đặt tên con suối ấy là Suối Mỡ và lập đền thờ, gọi là đền Thánh mẫu thượng ngàn. Dọc đôi bờ Suối Mỡ, người dân bản địa xây dựng 3 ngôi đền kế tiếp nhau là đền hạ, đền trung và đền thượng. Sự linh thiêng, nổi tiếng và cảnh sắc hữu t́nh của Suối Mỡ đă cuốn hút hàng vạn du khách tới tham quan, làm lễ dâng hương vào độ xuân về.

Chính nơi đây, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đă cùng các tướng lĩnh thân tín lập đại bản doanh để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược Nguyên Mông từ Ải Chi Lăng, kéo về đánh chiếm Vạn Kiếp để từ đó tiến về kinh thành Thăng Long. Để ghi nhớ chiến công hiển hách này, người dân đă lập đền Trần, tại đây c̣n khu di tích 3 dinh, 7 nền, băi, quần ngựa, thao trường...

Để biến Suối Mỡ thành khu du lịch hấp dẫn, Bắc Giang đă đầu tư trên 10 tỷ đồng làm đường ô tô dài trên 13km từ ngă tư Thân vào khu du lịch, xây dựng hệ thống đường điện với tổng kinh phí 559,429 triệu đồng. UBND tỉnh cũng đă phê duyệt dự án đầu tư cho Suối Mỡ 5 hạng mục gồm hồ chứa nước, băi đậu xe, khu nhà nghỉ...với tổng kinh phí 12 tỷ đồng. Khu du lịch Suối Mỡ là khu du lịch đáp ứng được các nhu cầu của du khách về nghỉ dưỡng, tham quan, cắm trại, leo núi, bơi thuyền, câu cá, đua ngựa, săn bắn....

Sau khi được tỉnh đầu tư Suối Mỡ đă trở thành khu du lịch tổng hợp lớn nhất Bắc Giang, thu hút b́nh quân mỗi năm trên 4 vạn du khách trong và ngoài nước.

Ông Dương Trọng Tài, Giám đốc Sở Thương mại - Du lịch Bắc Giang cho biết Sở đang khẩn trương xây dựng nhà nghỉ, nhà giải trí, khách sạn...bên bờ Suối Mỡ để phục vụ du khách và tăng thêm doanh thu cho khu du lịch này. (Theo Tuần báo Du lịch)

 

Cổng làng Thổ Hà

Thổ Hà là một làng quê đẹp, nằm bên con sông Cầu, nổi tiếng bởi làng nghề gốm. Cách cổng làng không xa, có ngôi đ́nh cổ được dựng vào đời Lê Hy Tông (1692) trên khu đất rộng 3.000m2, có nhiều cây cổ thụ, thuộc huyện Việt Yên. Kiến trúc theo kiểu chữ công, ṭa bái đường dài 27 mét, rộng 16 mét, nền cao 0,5 mét, xung quanh bó đá tảng xanh. Mái lợp ngói mũi hài, to bản, 4 góc là những đầu đao cong vút.

Một lần đến làng cổ Thổ Hà

Cách Hà Nội gần 50km, phía bên kia con sông Cầu thơ mộng, có một làng cổ c̣n tồn tại tới ngày nay và không ít người đang lo ngại rằng trong một ngày không xa ngôi làng cổ kính có tên là Thổ Hà ấy có thể sẽ mất đi... Làng Thổ Hà, thuộc thôn Cổ Hà, Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang tồn tại như một ốc đảo trên diện tích với 20ha. Ngôi làng bị ngăn cách với thế giới bên ngoài bởi ḍng sông Cầu và hồ ao, đồi núi lớn nhỏ. Có lẽ cũng v́ vậy mà nó c̣n lưu giữ được nhiều nét cổ xưa của một làng nghề miền Bắc Việt Nam.

H́nh ảnh đầu tiên gây cảm xúc cho chúng tôi khi đặt chân đến nơi đây là những con đ̣ đơn sơ đậu bên bến nước với những cây si già buông chùm rễ dài xù x́ xuống ḍng sông. Lũ trẻ làng vắt vẻo trên cành cây, tiếng cười đùa lanh lảnh lan tỏa trên mặt nước. Ngay trên bến có một ngôi đền cổ thờ Thành Hoàng. Cạnh ngôi đền là một quán nước nhỏ, bàn ghế gỗ cũ kỹ trên nền đất lồi lơm. Bà chủ quán mái tóc bạc phơ, hiền hậu, ngồi nhai trầu bỏm bẻm như trong truyện cổ tích. Những con đường trong làng nhỏ hẹp và đều được lát bằng thứ gạch đỏ truyền thống đă ṃn vẹt v́ thời gian Nhà cửa san sát, mái ngói nhuốm màu rêu phong. Những bức tường không trát vữa, có chỗ chỉ là những viên gạch, ngói nung hay tiểu sành được xếp chồng lên nhau theo tầng, theo lớp, tạo nên một sự độc đáo trong xây dựng. Cổng làng, đ́nh, chùa nơi đây mang dáng dấp, màu sắc cổ xưa và hầu hết đều được xây bằng gạch thô không trát vữa...

Phong cảnh làng cổ Thổ Hà đă làm xao xuyến tâm hồn bao nghệ sĩ nhiếp ảnh đến từ mọi miền. Xưa kia nghề truyền thống của dân Thổ Hà là làm gốm sứ. Tiếc thay, nghề này hầu như đă bị mai một. Nhiều thanh niên đă bỏ nghề, rời làng đi nơi khác kiếm sống để đến khi phất lên, lại quay về mảnh đất tổ tiên xây dựng lên những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi hay mái bằng kiên cố chen lẫn những ngôi nhà rêu phong cổ xưa. Điều đó cho thấy một số hộ dân nơi đây đă có cuộc sống kinh tế khám khá hơn, nhưng cũng chính là điều đang đe dọa làm mất đi sự hài ḥa cho cảnh quan của một làng cố... Làm ǵ để vừa bảo tồn được nét đẹp cổ, vừa cải thiện được cuộc sống của Thổ Hà đang là câu hỏi được đặt ra không chỉ với chính quyền và người dân nơi đây.

Làng gốm đang hồi sinh


Dấu tích vàng son

Có hai thứ khiến mọi người nhớ đến xă Vân Hà (huyện Việt Yên, Bắ Giang) nhiều nhất là nghề nấu rượu làng Vân và làng gốm Thổ Hà. V́ cả hai thứ này đă nổi tiếng khắp vùng và là nghề duy tŕ cuộc sống của người dân. Một ngày đông se lạnh, tôi t́m về làng gốm. Qua bến đ̣ Thổ Hà dừng chân bên hữu ngạn sông Cầu, nơi con đ̣ nhỏ đưa qua đất Thổ Hà, tôi đă cảm thấy được vẻ đẹp của sông nước, mây trời nơi đây. Sông Cầu thật êm ả, hiền ḥa. Theo bia "Thủy tạo đ́nh miếu" dựng năm 1692 có ghi "... địa h́nh sơn thủy, Thổ Hà eo ở phía đông giống như h́nh con rồng quay lại chầu chốn Tổ. Ở phía tây tựa h́nh con hổ ngồi chầu về tôn miếu. Ở phía nam th́ đỉnh non nguyệt ghi rơ trong sách trời..." Phải chăng địa thế ấy đă giúp cho Thổ Hà trở thành một làng nghề thịnh vượng bậc nhất thời bấy giờ?

Theo gia phả làng nghề và những mẫu hiện vật khảo cổ được t́m thấy th́ Thổ Hà là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Sản phẩm của làng nghề đă có thời nổi danh khắp thiên hạ. Từ lúc có nghề gốm đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, cả làng chỉ sống bằng nghề gốm. Đồ gốm Thổ Hà được nung ở nhiệt độ cao nên đă thành sành, gốm màu nâu sẫm, thâm tím đanh mặt, gơ trên gốm tiếng kêu coong coong như thép, mảnh gốm có cạnh sắc như dao, đựng chất lỏng không bao giờ thấm qua, đựng chất rắn đầy chặt không bao giờ ẩm mốc. Nhờ có nghề làm gốm mà cuộc sống của người dân trước đây hơn hẳn những nơi khác. Người Thổ Hà vắt đất nhào nặn thành nhiều mặt hàng, từ đồ nặn các cỡ, có thể chứa 350 lít nước, đến chĩnh chơ, chum, vại... mà nhiều làng nghề huyện Quế Vơ khi đồ xôi cho hội xuân, nhất định phải có chơ sành của Thổ Hà mới ưng ư. V́ thế mà gốm của làng nổi danh khắp thiên hạ và kéo theo hẳn làng Vọng Nguyệt cùng xă chỉ chuyên làm thuê, chở hàng thuê cho làng.

Nghề làm gốm Thổ Hà xuất hiện từ thế kỷ XIV. Với địa thế thuận lợi là làng ven sông, nơi đây nhanh chóng trở thành một thương cảng gốm tấp nập của vùng Kinh Bắc. Sự hưng thịnh của nghề gốm đă giúp người dân xây dựng một quần thể kiến trúc đ́nh chùa bề thế uy nghi.

Mất nghề, cả làng lao đao
Trong suốt quá tŕnh phát triển, gốm Thổ Hà luôn đi đầu trong việc sản xuất đồ gốm gia dụng. Hầu hết các gia đ́nh ở đất Bắc đều có một hoặc hai sản phẩm của làng trong nhà.

Sau miền Bắc giải phóng, làng nghề chuyển thành hợp tác xă, rồi thành xí nghiệp gốm Thổ Hà. Sản phấm chủ đạo là gốm sành các loại: chum, vại, ống máng nước...theo ḍng sông Cầu toả đi khắp đất nước. Thế nhưng bước sang nền kinh tế thị trường, nghề làm gốm ở đây không c̣n trụ vững, chỉ c̣n một vài gia đ́nn duy tŕ sản xuất, bởi sản phẩm không có nơi tiêu thụ. Đến năm 1992, nhà kho, xưởng gốm được thanh lư, nghề gốm Thổ Hà thực sự mất hẳn sau gần 6 thế kỷ tồn tại và phát triển.

Nhưng đến đầu những năm 90, cũng giống như bao làng nghề truyền thống khác, gốm Thổ Hà rơi vào t́nh trạng sản phẩm làm ra không bán được và mai một dần. Do thị hiếu, nhu cầu trên thị trường thay đổi mà những sản phẩm gia dụng không c̣n phù hợp. Sản phẩm làm ra cứ chất đầy sân, đầy nhà. Rồi không trụ được, cả xí nghiệp và hợp tác xă cứ tan ră dần. Và ḷ gốm ở đây ngừng đỏ lửa cho đến gần đây. Ông Nguyễn Bá Quyền, Trưởng thôn Thổ Hà ngậm ngùi nói: "Mất nghề đồng nghĩa với mất nghiệp. Từ lúc h́nh thành làng cho đến tận bây giờ, dân Thổ Hà không làm ǵ khác ngoài nghề gốm. Nay mất nghề cả làng lao đao. V́ cả làng không có lấy một tấc ruộng. Đất ở th́ khá chật hẹp b́nh quân mỗi nhà được hơn 50 m2. Mất nghề cũng đồng nghĩa với việc mất đi toàn bộ nguồn thu nhập. Sản phẩm làm ra không bán được, đành bỏ nghề để t́m kế sinh nhai...". Nói đến đây, ông Quyền buồn lắm, vừa vân vê điếu thuốc lào hút một hơi thật sâu để nén cái thở dài. Ông nói: "Hậu quả của việc mất nghề vẫn đeo đẳng người dân Thổ Hà đến ngày nay. Làng đă xoay đủ nghề nào là chạy chợ, làm miến dong, bánh đa nem... giật gấu vá vai vậy mà vẫn thiếu ăn...". Cả thôn có 3.248 khẩu th́ có tới 70% là thiếu ăn. Cả làng đều trong t́nh trạng ăn đong".

Nghe ông Quyền đưa ra những con số năo nề như vậy, tôi thấy ḷng se lại và xót xa, tiếc nuối cho một làng nghề. Quá khứ vàng son năm xưa không phủ đầy và che lấp được chuyện cơm, áo, gạo, tiền hằng ngày của mỗi người dân làng nghề. Nói như các cụ trong làng th́ "chum vại của làng đựng gạo th́ được chứ đổi được gạo bây giờ th́ khó lắm". Đi ṿng quanh làng gốm, những dấu tích năm xưa vẫn c̣n đó. Cây đa, bến nước sân đ́nh, ngôi chùa cổ... phần văn hóa vật chất vẫn c̣n lưu giữ được hoài niệm quá khứ, nhưng nó đang thiếu đi hơi thở của một thời hưng thịnh. Những ngơ dài hun hút hai bên tường c̣n đầy mảnh gốm cũ ghép lại. Trong cái môi trường chật hẹp ngột ngạt đến khó thở v́ những phên bánh giăng nghẽn lối đi, cộng với chất thải từ chăn nuôi, người dân vẫn nuối tiếc cái không khí "trên bến dưới thuyền" ngày nào. Đất chật, người đông, nghề mất, khiến cuộc sống của người dân làng gốm Thổ Hà trở nên vất vưởng. Khi tôi hỏi nghề gốm có phục chế được không th́ ông Quyền như sực tỉnh cơn mê. Ông cho biết, hai năm qua, cả làng có ông Cáp Trọng Tuất đang tiến hành khôi phục lại nghề. Điều mừng hơn là mới đây, Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội về làng xin được phục chế nghề truyền thống. Nhiều đoàn khách Nhật Bản đă về thăm quan và họ rất thích nét cổ trong gốm Thổ Hà.

Cách tân để tồn tại

Giữa những ḷ than rực lửa chuyên tráng bánh đa nem, làm mỳ gạo của làng Thổ Hà, xă Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang, chúng tôi bất ngờ gặp một ḷ gốm chứa đầy sản phẩm đang nhả khói, h́nh ảnh mà chỉ cách đây hơn chục năm về trước mới thấy. Đó là ḷ gốm của một cựu chiến binh-ông Cáp Trọng Tuất, một người đă từng đảm nhiệm vai tṛ chủ nhiệm Hợp tác xă gốm Thổ Hà những  năm 1957-1960.

Vừa vào tới sân nhà, tôi thấy ngỡ ngàng bởi có nhiều gốm mộc để đầy sân. Ông Tuất đang say sưa bên bàn xoay. Thấy khách đến nhà, ông vừa rửa tay, vừa tranh thủ thông báo luôn: "Cả làng đă tập trung được về đây gần chục tay nghề cự phách. Lúc đầu, làm cho đỡ nhớ nghề là chính. Ai dè vừa rồi Trường đại học Mỹ thuật về xin phục chế lại làng gốm. Có được duyên cớ này cũng từ những sản phẩm cổ của làng mà ra. Họ đến thăm đ́nh và chùa của làng thấy những hiện vật như lư hương, bát hương cổ của làng có từ đời Lư mà hoa văn cũng rất đẹp. Họ rất thích. Sau khi xem xét kỹ, các cán bộ của Trường đă đưa ra lời đề nghị được khôi phục lại làng gốm".

“Để thất truyền nghề gốm là có lỗi với cha ông''. Đó là lời của ông Tuất. Và ư tưởng khôi phục lại nghề gốm của ông đă được những người bạn ''già'' góp tiền lương hưu cùng làm. Rồi ḷ gốm cũng được xây xong, ông vận động những người biết nghề c̣n lại trong làng tham gia sản xuất. Tỉêu chí họ đề ra là tiếp tục làm các sản phẩm gốm sành truyền thống trong sự cách tân đảm bảo chất lượng cao; từng bước quảng bá giới thiệu sản phẩm trên thị trường trước khi sản xuất gốm mỹ nghệ tráng men. Lượt sản phẩm chủ đạo đầu tiên ra ḷ gồm: bát hương tạo h́nh cánh noa sen, tiểu quách có mái che, bộ trang trí trụ cổng có gắn đèn, be nậm rượu và đôn, chậu cảnh các loại... Đặc biệt, một số loại be nậm rượu đuợc phục chế từ nguyên mẫu be rượu cổ đuợc khách hàng từ Hà Nội, Hải Pḥng, Nam Dịnh... về đặt mua với giá khá cao. Ông Tuất cho biết, bước đầu trung b́nn một ḷ cũng cho thu lăi từ 1,2- 1,5 triệu đồng. Đây quả là một sự khởi đầu hứa hẹn nhiều thành công.

Gốm của Thổ Hà để ngh́n năm không bị mất màu và tự chảy ra men do kỹ thuật nung tốt. Ông Tuất vào buồng bê mấy bát hương giả cổ vừa cho ra ḷ. Ông nói: "Bước đầu làm ra bán được. Tất nhiên đây mới là bước thử nghiệm, nhưng có một điều tui khẳng định chắc chắn rằng, nếu phục chế được trên 20 mẫu đồ thờ theo thời Lư, Trần th́ chắc chắn làng gốm sẽ chuyển sang một giai đoạn khác". Ông nói thêm như để chứng minh: "Lúc đầu làm ra, tôi cũng không tin lắm. Sau đó một thời gian, có mấy vị khách Nhật Bản đến tham quan cũng đưa ra nhận xét là "gốm ở đây hơn nơi khác là không phải dùng men. Nay lại có thêm nhiều mẫu giả cổ có hoa văn khác lạ...". Tôi làm được vài mẫu, bước đầu bán được. Nhưng do bỏ nghề một thời gian quá lâu, nên chất lượng chưa bằng được gốm ngày xưa. Nếu chỉnh chu hơn về mặt kỹ thuật, vấn đề đầu ra cho gốm Thổ Hà không phải là chuyện quá khó nữa".

Công việc này đâu riêng ǵ ông Tuất tiến hành, mà ở làng có cả những bậc kỳ cựu như ông Nguyễn Đức Ngoạn, Trịnh Đắc Thông, Nguyễn Đức Sinh... đến nhà ông Tuất tham gia khôi phục lại nghề gốm. Ông Sinh nói: "Nếu nói làng gốm đă hồi sinh th́ hơi sớm. Nhưng tôi có thể khẳng định nếu gốm Thổ Hà có sự cách tân đôi chút về mẫu mă th́ trong thời gian không xa, làng gốm sẽ hồi sinh. Thế mạnh của gốm Thổ Hà nung trong bảy ngày, bảy đêm, nên là gốm sành. Và nhiều mẫu cũ có giá trị được cải biên cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Nhiều tay chuyên đi săn đồ giả cổ đă t́m về tận đây xem hàng. Nếu chúng tôi phục chế được chất lượng gốm như trước th́ sẽ mở ra một hướng đi mới cho làng... Nghe ông Sinh háo hức nói về nghề, về tương lai của làng với sự tự tin, tôi hy vọng rằng, không bao lâu nữa, đất và lửa nơi này lại quyện lẫn nhau, làm sáng lại vùng đất đă có một thời nổi danh về gốm.

"Tắm bồn" ở suối Nước Vàng

Mới được phát hiện ngẫu nhiên vào đầu năm 1998, suối Nước Vàng trên dăy núi Phật Sơn thuộc xă Lục Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) chưa có nhiều du khách tới tham quan. Nhưng ai đă một lần tới đây sẽ không thể quên được cảm giác thư thái như vừa "rũ sạch bụi trần" trong khung cảnh thiên nhiên hoang dă và những di tích Phật giáo thời Trần.

Từ Hà Nội theo quốc lộ 1A khoảng hơn 50km đến thị xă Bắc Giang, rẽ đường quốc lộ 31 đến thị trấn Lục Nam, rồi lại qua khu du lịch Suối Mỡ vào trung tâm xă Lục Sơn, đi tiếp khoảng 7km là tới chân Phật Sơn - một dăy núi nằm trong hệ thống núi Yên Tử có độ cao trung b́nh 800-900m. Từ đây, qua 7 con suối đến khe Băi Bắn, ta có thể bắt đầu chuyến tham quan suối Nước Vàng.

Dọc con đường nhỏ theo khe suối có đủ các loại cây cỏ ngả bóng mát rượi. Dưới ḷng suối, hai bên bờ có những khối đá nhám kết tinh, tảng th́ trắng bong, tảng có màu vàng óng ngổn ngang làm cảnh quan hạ nguồn cực kỳ sinh động. Từ hạ nguồn tới thượng nguồn suối Nước Vàng có hơn chục thác nước, thác nhỏ cao 5-7m, thác lớn cao tới 50m. Vào mùa mưa, nước nhiều - tiếng reo của thác vang xa tới vài kilômét. Điều thú vị ở đây là bạn có thể gặp những "bồn tắm thiên nhiên" rải rác theo ḍng suối. Lư do là v́ nước chảy đá ṃn tạo nên những "bồn tắm" đó. Có "bồn" tắm được 2 người, có "bồn" đủ chỗ cho cả chục người. Một điểm khá hấp dẫn khách du lịch là màu sắc kỳ lạ của nước suối nơi đây: màu vàng óng (ảnh). Sắc màu đó là do nước đọng trên những phiến đá cát nhám có màu vàng, cũng là lư do tên gọi của ḍng suối được đặt.

Thăm suối Nước Vàng, sau khi tắm mát, du khách dễ có cảm giác thư thái như vừa "rũ sạch bụi trần". Đây chính là lúc thích hợp để thăm viếng am Ngoạ Vân hay chùa Hồ Thiên bên sườn đông bắc của dăy Phật Sơn - là một trong những ngôi chùa đă được thiền sư Pháp Loa thời Trần xây dựng, cũng là nơi Vua Trần Nhân Tông - vị tổ của ḍng thiền phái Trúc Lâm - tu hành và giảng đạo. Quanh khu vực suối Nước Vàng c̣n rất nhiều dấu tích của các ngôi chùa cổ có niên đại từ rất sớm (thời Trần - Lê từ thế kỷ XIV đến XVIII)..

 

BACK