Back

Travel destination in North Vietnam :  Bac Can  province : Ba Be lake

Ba Bể không xa xôi

Ba Bể là hồ thiên nhiên lớn nhất và cũng được đánh giá là hồ có phong cảnh đẹp nhất nước ta. Nhìn trên bản đồ, Ba Bể là một cái chấm giữa tỉnh Bắc Cạn và Cao Bằng, sâu trong núi rừng Việt Bắc. Song du khách hoàn toàn có thể đi Ba Bể bằng xe đò vì đường rất dễ đi.

Ra bến xe Kim Mã ở trung tâm Hà Nội, hỏi đi Ba Bể chẳng mấy ai biết, bạn hãy mua vé đi Bắc Cạn. Xe đi Bắc Cạn là Toyota cá mập đời mới, ghế nệm, không kém xe chất lượng cao, và chỉ mua vé ngay tại quầy, bỏ ngoài tai tất cả lời mời mọc ngoài bến. Cũng có thể hỏi tại nhiều quán cà phê ở Hà Nội vốn luôn có tour đi Ba Bể nếu bạn ngại đi một mình.

Ði từ Hà Nội lúc 8 giờ, đến Bắc Cạn khoảng giữa trưa. Từ bến xe Bắc Cạn có xe đi đến tận bờ hồ Ba Bể (ít xe), và xe đi Chợ Rã, cách ba Bể 16km (nhiều xe hơn). Nếu không ngại phiêu lưu và có dịp nhìn ngắm cảnh quan địa phương bạn hãy đi Chợ Rã, từ đó đi tiếp đến Ba Bể.

Bắc Cạn có suối đãi vàng,
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh.

Nàng áo xanh thì ở đoạn gần tới Chợ Rã bạn gặp nhiều - những cô gái Tày đi làm ruộng rẫy bên đường. Ðường đèo quanh co, thấp thoáng trên đường là vài nhà sàn người Tày rất to, mái lợp tranh hay ngói âm dương, bên bờ suối, nơi lưng đồi.

Từ Chợ Rã có bến đò máy đi vào hồ. Ðò chở được 10 khách đi theo sông Năng, qua động Puông, một động ngầm trong núi, rồi đưa khách vào chơi hồ và về lại Chợ Rã. Một vòng như vậy năm tiếng, tiền đò máy 200.000 đồng. Không đi đò, bạn đi xe ôm vào hồ chỉ tốn 10.000 đồng. Con đường trải nhựa từ Chợ Rã và Ba Bể rất đẹp. Cảnh sắc bên đường thay đổi không ngừng. Ngang vườn quốc gia Ba Bể, không khí mát lạnh nhờ tán cây của những rừng cổ thụ, rừng tre. Lên một con dốc và Ba Bể hiện ra trước mắt. Phong cảnh hệt như trong những tấm bưu thiếp. Nước hồ trong xanh soi bóng mây, bóng núi. Một con thuyền độc mộc lẻ loi. Con đường tuyệt đẹp này tiếp tục chạy vòng quanh hồ, qua một cây cầu treo, đang được công nhân sơn phết, chuẩn bị hoàn tất. Sau này ôtô sẽ đến tận bản Pác Ngòi, một bản Tày phía bên kia hồ. Tôi đã đến Ba Bể như thế, không mấy nhọc mệt và chỉ tốn 70.000 đồng.

Du ngoạn chốn tiên cảnh

Dù chỉ đến Ba Bể một lần bạn sẽ có được niềm vui kỳ lạ. Bởi vì Ba Bể là một trong 500 cái hồ trên thế giới cần được đặc biệt bảo vệ, là "Viên ngọc xanh" quý giá của Việt Nam đang được UNESCO xét duyệt để công nhận là di sản văn hoá của toàn nhân loại. Trong cuộc kiến tạo Đông Nam Á cuối Kỷ Camri cách đây 200 triệu năm, sức mạnh diệu kỳ của thiên nhiên đã tạo dựng cho Việt Nam một thắng cảnh thần tiên: hồ Ba Bể.

Đó là một cái hồ gồm 3 nhánh lớn: Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng có diện tích tổng cộng 5 km2, độ sâu từ 25 đến 35 mét, nằm vắt vẻo trên độ cao 150 mét so với mặt biển ở vùng núi đá vôi thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách Hà Nội khoảng 220 km theo đường bộ. Ô tô đậu giáp bờ hồ Pé Lầm. Đông người thì thuê một thuyền gỗ lớn có gắn máy, ít người và ưa mạo hiểm thì thuê một hoặc vài chiếc thuyền độc mộc do các cô gái Tày áo xanh uyển chuyển chèo lái từ một đến hai ngày là bạn sẽ có một cuộc du ngoạn lý thú và bất ngờ.

Điều bất ngờ đầu tiên là ngay trong hồ Pé Lầm lại có một cái hồ nhỏ nhưng nằm trên một hòn đảo và mang cái tên đầy màu sắc huyền thoại: Ao Tiên. Tại đây, bạn có thể thoả thuê tắm mát song bạn sẽ chẳng thể nào hiểu được vì sao ở tít trên đỉnh núi đá vôi cao hơn mặt hồ khoảng 100m mà nước Ao Tiên vẫn đầy ắp trong veo.

Pé Lù, nếu đúng vào các ngày từ mồng 7 đến 10 tháng Giêng âm lịch, bạn sẽ không thể không ghé thuyền vào đảo An Mã dự Hội xuân Ba Bể cùng dân làng náo nức cổ vũ cho các trò chơi dân gian truyền thống như thi bơi thuyền độc mộc, bịt mắt bắt dê, chọi bò, đấu vật, ném còn giao duyên...Đến Pé Lèng, bạn nhớ ghé thăm đảo Pò Giả Mải - tức Gò Bà Goá, nơi đặt tấm bia đá niên hiệu Khải Định thứ 9 (1925) ghi lại truyền thuyết về sự hình thành Ba Bể - một câu chuyện xúc động đề cao lòng nhân ái của con người.

Từ Pé Lèng chảy xuôi chừng 800 mét, dòng sông Năng xuyên qua khối núi đá vôi Lũng Nham tạo ra Động Puông dài 300 mét cao 30 mét, nhũ đá muôn hình vạn trạng, huyền ảo, lung linh. Rời Động Puông, thuyền lướt êm qua bản Tàu, bản Cắm đến bản Húa Tạng thì dòng sông Năng bị hàng trăm tảng đá lớn chặn lại khiến nó phải tách ra nhiều dòng nhỏ, chảy xiết, tạo thành thác Đầu Đẳng hùng vĩ. Thác dài tới hơn 1.000 mét, tạo thành ba bậc, bậc trên chênh với bậc dưới từ 3 đến 4 mét theo chiều dài. Bao nhiêu mệt nhọc trong quá trình đi đường được khí mát từ thác nước toả ra, xua tan, con người bỗng trở nên sảng khoái.

Từ trên cao nhìn xuống, dòng sông Năng, sông Chợ Lèng, suối Tả Han, suối Nà Phòng... như những dải lụa mỡ gà óng ả, uốn lượn ven hồ, quanh năm cung cấp nước để mặt hồ luôn đầy ắp, xanh trong, trong đến mức bằng mắt thường bạn có thể nhìn thấy nhiều loại thực vật thủy sinh nằm sâu trong nước.

Cả một phức hệ bao gồm hồ, sông, suối, núi rừng, hang động đã giữ cho nước hồ Ba Bể có nhiệt độ trung bình cả năm 22oC ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè để Ba Bể là nơi nghỉ ngơi du ngoạn lý tưởng 4 mùa của khách thập phương. Ba Bể càng đẹp hơn bởi tài nguyên rừng phong phú, đa dạng. Ông Bùi Định giám đốc Vườn Quốc gia Ba Bể (vườn có diện tích 10.130 ha) cho biết: Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện trong lòng hồ có 87 loài cá nước ngọt đặc trưng của vùng đông bắc Việt Nam, trong đó các loài quý hiếm như cá chép kình, rầm xanh, anh vũ và cá lăng.

Trên rừng, đã phát hiện 620 loài thực vật (có nhiều loại gỗ quý: đinh, trai, nghiến, lát..), 38 loài thú, 111 loài chim, 100 loài bướm, 18 loài bò sát... Trong đó có các loài đặc hữu: trúc dây, tảo đỏ, voọc mũi hếch, voọc đen má trắng; các loài quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam: phuợng hoàng đất, gà lôi, công trĩ, hươu xạ, gấu ngựa, báo hoa mai...

Ba Bể còn là nơi ẩn chứa kho tàng văn hoá nghệ thuật truyền thống lâu đời, phong phú và độc đáo: truyện thần thoại cổ tích, ca dao, dân ca, nhạc cụ dân tộc với các làn điệu hát lượn ới, hát lượn then, slương, lượn soi, phuối rọi.. Dù bạn nghỉ qua đêm ở đâu - khách sạn trong khu trung tâm vườn Quốc gia Ba Bể hay một ngôi nhà gỗ khang trang, thoáng mát, ở các bản làng nằm rải rác ven hồ - bạn đều có thể được nghe đàn, nghe hát.

Những tiếng đàn, lời hát làm say đắm lòng người, và người đàn, người hát chẳng phải ai xa lạ mà chính là các cô gái Tày áo xanh, xinh đẹp duyên dáng đã chèo thuyền độc mộc đưa du khách trên hồ, hay là người đầu bếp tài ba, tác giả của những món ăn "dân tộc", "đặc sản" mà bạn đã may mắn thưởng thức; Và cũng có thể bạn đã suýt xoa khâm phục khi chiêm ngưỡng một tấm thổ cẩm rực rỡ do chính cô dệt lên tại bản Bó Lù, cách bến thuyền phía tây chỉ vài trăm mét. Đã bao đời nay, khi nói đến thắng cảnh nổi tiếng này người ta không thể không nhắc đến hình ảnh tuyệt vời của các cô gái Tày xinh đẹp:

 

Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Na Rì

Trên những thửa ruộng bậc thang thuộc xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn, cứ vào ngày mồng 8 tết âm lịch hàng năm, lại diễn ra một lễ hội của đồng bào Tày, Nùng mang tên "Lễ hội Lồng Tồng". Những người dân sở tại sẽ dâng lên những mâm cỗ do chính tay mình tự làm, bao gồm tám mâm, tám chén, tám đôi đũa cùng tám chai rượu. Nắng mưa cũng mặc, lễ hội vẫn cứ diễn ra, mâm cỗ vẫn cứ dâng lên vì trên mỗi mâm đã có những chiếc ô che sẵn. Chủ hội sẽ đích thân làm lễ cúng Thần nông-vị thần cai quản ruộng đồng, làng bản để cầu ấm no, sức khỏe và hạnh phúc cho mọi người dân trong bản.

Xã Lam Sơn, nơi diễn ra lễ phục dựng hội Lồng Tồng còn vui hơn cả Tết bởi sự nhộn nhịp của đêm trước lễ hội. 10 thôn, bản náo nức chuẩn bị cỗ. Đã ít nhiều biết đến ẩm thực của các dân tộc miền núi phía Bắc qua sách báo và những ngày hội nhưng vẫn không khỏi ngỡ ngàng bởi sự khéo léo và tinh tế trong chế biến món ăn và nâng sự bình dị của từng món ăn lên hàng nghệ thuật khi gắn vào đó những ý niệm, những so sánh trong sự tương quan giữa âm và dương, trời và đất của người dân Na Rì. Lễ rước cỗ mở đầu cho Lễ hội Lồng Tồng diễn ra tại khu đất trống ở bản Pioo xã Lam Sơn khiến người ta nghĩ đến lễ dâng bánh chưng bánh dày của Lang Liêu thủa trước. Trang trọng và đầy ắp hương xuân, mỗi mâm cỗ là một tác phẩm nghệ thuật của nấu nướng và sắp đặt. Chỉ với một loại nếp nương, người dân Na Rì đã chế biến được 8-10 món bánh trên mâm cỗ, từ bánh dày, bánh chưng, xôi mật, xôi ngũ sắc ... đến các loại bánh phỏng nhào mật đủ cả vuông, tròn, sao năm cánh. v.v. Rồi chuối, dứa, và các loại hoa rừng, mùa nào thức đấy, mâm cỗ đầu xuân của ngày hội xuống đồng cũng là mâm cỗ đủ cả sản vật của 12 tháng với ước mong về một sự no đủ.

Giờ khai hội, cây cột tung còn được trang trí bằng những tua rua vải sặc sỡ với những quả còn được chuẩn bị sẵn sẽ trở thành trung tâm của lễ hội sau khi ông chủ hội tung quả còn đầu tiên lên. Nam nữ xúm lại bên ném, bên bắt còn. Đó cũng là một kiểu trao gửi tình cảm của thanh niên vùng núi hiếm hoi còn sót lại đến ngày nay. Sau đó là chương trình hát sli lượn giao duyên, múa sư tử, biếu diễn đao thuật, hội cờ tướng (bàn cờ được ghép bằng những mảnh cây vầu), đám kéo co (đội nào thắng thì coi như năm đó được mùa)... khiến lễ hội trở thành một dịp cho người dân bản trổ tài góp vui...

Gắn bó với lao động sản xuất, Tết đến cũng là ngày các dụng cụ lao động được hưởng niềm vui đón Tết như con người. Người ta dán giấy đỏ, giấy hồng lên các dụng cụ lao động, như thể khoác cho nó một tấm áo mới, hay truyền sang nó một nụ cười xuân. Bốn con trâu được chọn xuống đồng trong ngày khai hội cũng được tết nơ hồng, nơ đỏ vào đuôi, vào sừng, những chiếc cày, chiếc bừa gắn tua rua, cắm cờ đỏ khiến mảnh ruộng cạnh khu lễ hội cũng rực lên một sắc mới. Ngay sau những đường cày khai hội, những quả còn với những chiếc đuôi dài như những lọn tóc con gái vùng cao, đủ màu sắc vun vút tung lên cao. Cột còn khá cao, vòng tròn khá nhỏ nhưng quả còn của một chàng trai Lam Sơn đã tung trúng tâm tròn, khép lại hội tung còn mở màn cho những câu sli, lượn giao duyên tình tứ. Mùa hoa mận trắng xóa, tiếng róc rách của suối nước, sự ồn ã của gió rừng ... tất cả như tụ hội về Lam Sơn cùng những câu sli, lượn. Người xem không muốn dứt khỏi những Lượn nàng ới, nhưng cũng không bỏ lỡ cơ hội để hòa vào sự nhộn nhịp , náo nức của những trò chơi dân gian như: kéo cóc, đẩy gậy, đánh yến, đánh sảng.v.v.

Một ngày náo nức, một ngày trái tim người dân Na Rì đập rộn rã bởi những ánh mắt trìu mến trao nhau, Lễ hội Lồng Tổng ở Na Rì có sự trang nghiêm của phần lễ, có cái náo nức của hội hè nhưng tuyệt nhiên không yếu tố thương mại và mê tín dị đoan. Đã bị mai một và mới được tổ chức lại từ năm 1999, Lễ hội Lồng Tổng ở Na Rì năm nay nằm trong kế hoạch phục dựng các lễ hội truyền thống cổ mà Bộ VH-TT chỉ đạo Vụ Văn hóa dân tộc miền núi phục dựng sau lễ hội Tâm nghết ( lễ hội Dâng trâu mừng được mùa và cầu cho mùa mới bội thu) của đồng bào Mnông ở Đaklak. Đồng thời, thông qua việc phục dựng, giữ lại cái hồn của lễ hội, những yếu tố mang bản sắc riêng, lược bỏ những chi tiết rườm rà, lạc hậu, bổ sung những yếu tố mới phù hợp để xây dựng mô hình mẫu Lễ hội đầu xuân cầu mùa của người Tày, Nùng. Từ hình mẫu, người Tày, Nùng ở các địa phương khác sẽ thổi vào hình mẫu những sắc màu của địa phương mình và "chuyển dịch" hình mẫu đó về địa bàn nơi mình sinh sống theo phương thức nhân rộng.

Theo ông Vi Hồng Nhân, Vụ trưởng Vụ VHDTMN, để Lễ hội Lồng Tồng Na Rì ấn tượng hơn nữa và thực sự là một hình mẫu, công tác tổ chức cần phải chuẩn bị kỹ hơn, bài bản hơn. Ví dụ, cột còn phải liền cây, không được chắp vá, và không quá cao để phụ nữ có thể tham gia. Trước khi tung còn tự do, nên để cho mỗi thôn tham gia tung từ 10-20 quả còn. Kịch bản lễ hội phải lưu ý tính kết nối hạn chế tối đa "giờ chết". Muốn vậy cần tăng cường đội múa lân biểu diễn trong những đoạn chuyển giao giữa các phần lễ hội. Người đọc văn lễ phải mặc trang phục dân tộc theo đúng nghi thức, phải quay mặt vào các mâm cỗ để đọc văn lễ chứ không phải quay lưng về cỗ, quay mặt về đám đông. Bổ sung thêm các trò chơi dân gian , cố gắng khai thác các nghệ nhân hát trong phần thi hát đối đáp giao duyên. Bởi theo ông, tại lễ hội lần này "đã phát hiện một vài cụ già có cả kho bài hát ... trong túi".

Na Rì đang đổi mới, Na Rì đang vươn mình để trở thành thị xã, thành phố trong nay mai. Nếu như con đường từ Bắc Kạn vào Na Rì vài năm trước phải đi mất cả ngày đường mới tới nơi thì bây giờ chỉ mất khoảng 2 giờ đồng hồ ô tô chạy. Tương lai không xa, Na Rì sẽ là một trong những tuyến đường thông thương, giao lưu thương mại và văn hoá với nước bạn láng giềng. Na Rì cũng sẽ có một khu du lịch sinh thái hứa hẹn sự hấp dẫn với động Nàng Tiên và thảm thực vật đa dạng. Kinh tế phát triển thì văn hóa cũng phải được quan tâm phát triển tương xứng với kế hoạch tăng trưởng kinh tế nơi đây và việc phục dựng , xây dựng hình mẫu Lễ hội Lồng Tồng được xem là bước khởi đầu của chặng đường phát triển mới văn hóa ở Na Rì.

Việc gìn giữ, bảo tồn không gian văn hóa của lễ hội Lồng Tồng không chỉ là nguyện vọng của người dân Lam Sơn, Na Rì - quê hương của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, mà cũng là mong muốn của những người làm công tác văn hóa. Với người dân miền núi như ở Bắc Cạn, việc có một lễ hội thực sự vui, bổ ích và lành mạnh như lễ hội Lồng Tồng rất hiếm hoi.